CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Lý thuyết cơ bản về hoạt động xây lắp trong các doanh nghiệp xây dựng 1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động xây lắp trong các doanh nghiệp xây dựng Theo khoản 21, điều 3, Luật xây dựng số 50/2014/QH13 định nghĩa “Hoạt động xây dựng” bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Một số đặc điểm của hoạt động xây dựng có ảnh hưởng tới kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm như sau: Thứ nhất: hoạt động xây dựng là một loại sản xuất công nghiệp đặc biệt theo đơn đặt hàng.
Sản phẩm xây lắp mang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ. Mỗi đối tượng xây lắp là từng công trình, hạng mục công trình, đòi hỏi yêu cầu kinh nghiệm, kết cấu, hình thức,địa điểm xây dựng thích hợp, được xác định cụ thể trên từng thiết kế dự toán của từng đối tượng riêng biệt. Do tính chất đơn chiếc, riêng lẻ nên chi phí bỏ ra để thi công xây lắp các công trình và kết cấu không đồng nhất như các loại sản phẩm công nghiệp. Từ đặc điểm này, kế toán xây dựng xây lắp phải tính đến việc theo dõi ghi nhận chi phí, tính giá thành và tính kết quả thi công cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt (từng công trình, hạng mục công trình) hoặc từng nhóm sản phẩm xây lắp nếu chúng được xây dựng theo cùng một thiết kế mẫu trên cùng một địa điểm nhất định.
Thứ hai: hoạt động xây dựng thường có đặc điểm là khối lượng xây dựng lớn, giá trị lớn, thời gian thi công tương đối dài. Do đó, kỳ tính giá sản phẩm xây lắp không xác định hàng tháng như các loại hình doanh nghiệp khác, mà được xác định 11 tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng công trình, điều này thể hiện qua phương thức thanh toán giữa hai bên nhà thầu và khách hàng. Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng yêu cầu quản trị kịp thời và chặt chẽ chi phí, phản ánh đúng đắn tình hình quản lý và thi công trong từng thời kỳ nhất định, đồng thời tránh tình trạng căng thẳng vốn đầu tư cho nhà thầu. Thứ ba: Hoạt động xây dựng thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của các yêu tố môi trường trực tiếp, do vậy thi công xây lắp mang tính thời vụ.
Các yếu tố môi trường thời tiết có ảnh hưởng đến kỹ thuật và tiến độ thi công, đồng thời nhà thầu còn phải chú ý đến các biện pháp quản lý máy thi công và vật liệu ngoài trời. Việc thi công diễn ra dài và thi công ngoài trời còn tạo nhiều nhân tố gây nên những khoản thiệt hại bất ngờ. Vì vậy kế toán phải chọn những phương pháp hợp lý để xác định những chi phí mang tính chất thời vụ và những thiệt hại một cách đúng đắn. Thứ tư: Hoạt động xây dựng được thực hiện trên các địa điểm biến động.
Sản phẩm xây lắp mang tính chất cố định, gắn liền với địa điểm xây dựng, khi hoàn thành không nhập kho như các ngành vật chất khác. Trong quá trình thi công nhà thầu phải thường xuyên thay đổi địa điểm, do đó sẽ phát sinh một số chi phí cần thiết như chi phí điều động công nhân, máy thi công, chi phí chuẩn bị mặt bằng… Kế toán phải ghi nhận các chi phí này và tổ chức phân bổ hợp lý. Thứ năm: Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ tại chỗ, không nhập kho. Sản phẩm tiêu thụ trong xây lắp vừa là sản phẩm hoàn chỉnh, vừa là sản phẩm hoàn thành theo giai đoạn quy ước.
Quá trình tiêu thụ sản phẩm trong xây lắp là quá trình bàn giao sản phẩm xây lắp hoàn thành cho khách hàng. Hoạt động xây dựng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là tiền đề tạo nên vật chất để phát triển các hoạt động. Vì vậy, hiểu được đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp có ảnh hưởng tới công tác kế toán như thế nào sẽ giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn, hiệu quả hơn. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp Định nghĩa CPSX Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 và Chuẩn mực kế toán quốc tế số 01“Chuẩn mực chung” thì: “Chi phí là các yếu tố làm giảm các lợi ích kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ, dưới hình thức các khoản tiền chi ra hoặc giảm tài sản hoặc làm phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm khoản phân phối cho các cổ đông hoặc chủ sỡ hữu”.
Chi phí được xem xét theo từng kỳ kế toán và là các khoản mục trong BCTC. Chi phí được ghi nhận, phản ánh theo những nguyên tắc nhất định. Vậy để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải huy động và sử dụng các nguồn lực như nguồn vốn, nguồn nhân lực, vật lực… để tạo ra sản phẩm hay hoàn thành công việc, lao vụ của mình. Những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để phục vụ sản xuất được gọi là CPSX.
Chi phí SXKD phát sinh thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Nhưng để phục vụ cho nhu cầu quản lý CPSX kinh doanh phải được tập hợp theo từng kỳ theo tháng, quý, năm. Theo giáo trình kế toán tài chính doanh nghiệp (Chủ biên GSTS Đặng Thị Loan – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân – Xuất bản năm 2016): Chi phí sản xuất sản phẩm là mọi khoản khoản chi phí thực tế phát sinh liên quan tới việc sản xuất, chế tạo sản phẩm. Toàn bộ các chi phí này được tính vào giá thành sản phẩm.
Chỉ những chi phí dùng để tiến hành các hoạt động sản xuất mới được coi là chi phí sản xuất và là bộ phận quan trọng trong chi phí SXKD của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất gồm nhiều khoản mục khác nhau, thông thường gồm: CPNVLTT, CPNCTT, CPSDMTC, CPSXC. Theo giáo trình kế toán quản trị doanh nghiệp (Chủ biên PGSTS Nguyễn Năng Phúc – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân – Xuất bản năm 2014): “Chi phí có thể là dòng phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định, chi phí cũng có thể là dòng phí tổn ước tính để thực hiện dự án, những phí tổn mất đi do chọn lựa phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh. Như vậy, chi phí có thể đã thực tế phát sinh, cũng có thể chưa phát sinh mà 13 mới chỉ ước tính; có thể là những cơ hội bị mất đi do chúng ta đã lựa chọn một cơ hội khác.
Chi phí không phải gắn liền với một kỳ cụ thể nào mà nó được xem xét gắn liền với các phương án, cơ hội kinh doanh gắn liền với một quyết định cụ thể mà nhà quản trị phải đưa ra. Chi phí là các hy sinh về các lợi ích kinh tế, phản ánh các nguồn lực mà đơn vị sử dụng để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ”. Xét về mặt bản chất thì CPSX là sự chuyển dịch vốn vào đối tượng tính giá nhất định, vốn này được Doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất. Xuất phát từ mục đích và nguyên tắc kinh doanh thì mọi sản phẩm tạo ra luôn được Doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả mang lại.
Như vậy, CPSX trong ngành kinh doanh xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về vật tư, tài sản cố định, nhân công, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan tới khối lượng xây lắp trong một thời kỳ nhất định. Phân loại CPSX sản phẩm xây lắp: Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có tính chất, công dụng và yêu cầu quản lý khác nhau. Vì vậy để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như công tác kế toán phù hợp với từng loại chi phí, cần phải phân loại CPSX theo những tiêu thức thích hợp. Trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có một số cách phân loại cơ bản như sau: + Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất của chi phí: Căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí, các chi phí giống nhau được xếp vào một nhóm, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực hoạt động nào, bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu: Là trị giá nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng …đã sử dụng phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất.
Chi phí tiền lương, tiền công: Là các khoản chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất. 14 Các khoản trích theo lương: Là các khoản trích theo lương phải trả cho các cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ. Chi phí về công cụ, dụng cụ: Là giá trị công cụ, dụng cụ xuất dùng cho sản xuất sản phẩm và được tính phân bổ vào CPSX trong kỳ. Chi phí khấu hao TSCĐ: Là chi phí về trị giá hao mòn của TSCĐ sử dụng phục vụ trực tiếp cho cho quá trình sản xuất.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi phí về dịch vụ phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất như: Vận chuyển, điện thoại, nước,. Chi phí khác bằng tiền: Là những khoản chi phí trực tiếp khác như: tiếp khách, hội nghị, thuế tài nguyên (nếu có). + Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng và mục đích đích sử dụng của chi phí: Theo công dụng và mục đích sử dụng của chi phí thì những chi phí có công dụng như nhau sẽ được xếp vào một yếu tố, bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ giá trị của “nguyên vật liệu chính”, “vật liệu phụ”,. được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất.
Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ chi phí trả cho công nhân tham gia vào sản xuất trực tiếp ra sản phẩm như tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất.