CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với việc phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý thuyết về phát triển kinh tế và hiện đang là vấn đề thời sự và được quan tâm bởi nhiều đối tượng khác nhau từ nhà nghiên cứu, chính trị hay người dân và doanh nghiệp. Đây là một khái niệm tiền đề, là nền tảng của nhiều mối quan hệ góp phần tạo nên các mối quan hệ đa chiều của xã hội. Các mối quan hệ đó có thể bao gồm giữa tăng trưởng và công bằng xã hội, tăng trưởng kinh tế và văn hóa, tăng trưởng kinh tế và môi trường, tăng trưởng kinh tế và tham nhũng,….
Do đó, việc nắm rõ các khái niệm cũng như các lý luận và lý thuyết về tăng trưởng sẽ góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống hơn về mối quan hệ của tăng trưởng với các khái niệm và phạm trù khác, và để từ đó góp phần hài hòa khái niệm này với các khái khái niệm và phạm trù khác. Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng phần lớn đều cho rằng Tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế nó phản ánh quy mô tăng lên hay giảm đi của nền kinh tế ở năm này so với năm trước đó hoặc của một thời kỳ này so với thời kỳ trước đó. Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng quy mô tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng. Quy mô tăng trưởng phản ảnh sự gia tăng lên hay giảm đi nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ảnh sự tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa năm hay các thời kỳ.
Để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng 2 chỉ số chủ yếu: phần tăng, giảm quy mô của nền kinh tế (tính theo GDP), hoặc tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (tính theo GDP). 8 Tương tự như vậy Bùi Quang Bình, 2012 cho rằng “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/ng) qua một thời gian nhất định. Thường được phản ánh qua mức tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng”. Có hai điểm chung nhất trong các khái niệm: (1)Tăng trưởng kinh tế liên quan đến sự gia tăng thu nhập quốc dân thực trên đầu người chứ không phải là thu nhập doanh nghĩa do đó cần phải điều chỉnh lạm phát khi tính toán.
(2) Quy mô sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người lại phụ thuộc vào quy mô sản lượng của nền kinh tế và dân số quốc gia. Nếu sự gia tăng của nền kinh tế cả hai yếu tố này khác nhau sẽ làm cho quy mô sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người thay đổi. Do vậy, trong nhiều trường hợp thu nhập bình quân đầu người không hề được cải thiện mặc dù có mức tăng trưởng dương. Chất lượng tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng sản lượng GDP hay GDP/ng của nền kinh tế chỉ mới phản ánh một mặt lượng của tăng trưởng.
Nhưng sự gia tăng quy mô sản lượng của nhiều nền kinh tế gần đây đang có những vấn đề lớn khi đằng sau sự tăng trưởng nhanh có nhiều vấn đề lớn như: tăng trưởng không ổn định dễ biến động, lãng phí nguồn lực, bất bình đẳng ngày càng lớn, tài nguyên môi trường bị khai thác cạn kiệt cùng với tình trạng ô nhiễm nặng nề,…. Vì thế người ta bắt đầu chúng trọng hơn việc ổn định tăng trưởng nhằm duy trì dài hạn hay nâng cao chất lượng tăng trưởng cùng với đó là nhiều nghiên cứu tập trung vào giải quyết vấn đề này. Các nhà kinh tế học trước đây tuy không nói rõ chất lượng tăng trưởng là gì nhưng cũng nhấn mạnh sự tăng trưởng chỉ được tạo ra ổn định chắc chắn nhờ tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh như Ricardo (1); (2) PGS. Bùi Quang Bình – Kinh tế phát triển, Đà Nẵng 9 (1821), ông khẳng định: Phải khai thác sử dụng hiệu quả đất đai thì mới đảm bảo phát triển.
Marx (1867) cho rằng: Tiến bộ công nghệ và sử dụng hiệu quả lao động sẽ là động lực cho tăng trưởng kinh tế. Solow (1956) cho rằng: Nếu chỉ dựa vào vốn thì tăng trưởng chỉ trong ngắn hạn. Mankiw (2006) đã phát triển và cho rằng: Việc nâng cao chất lượng lao động sẽ tăng hiệu quả của lao động - yếu tố tiến bộ kỹ thuật sẽ bảo đảm chất lượng tăng trưởng, nghĩa là chất lượng tăng trưởng thể hiện sự đóng góp của yếu tố tiến bộ ngày càng lớn. Kaldor, N (1961) tiến bộ kỹ thuật quyết định tăng trưởng kinh tế.
Sung Sang Park (1992) cho rằng: Tăng trưởng kinh tế có chất lượng khi sự gia tăng GDP đó dựa vào vốn con người (vốn sản xuất và trình độ, kỹ năng và kiến thức lao động) chứ không chỉ là vốn sản xuất. Nghĩa là chú trọng gia tăng GDP trên khía cạnh chiều sâu. Khác với tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng dựa vào vốn, tăng lao động và tăng cường khai thác tài nguyên. Tăng trưởng theo chiều sâu thể hiện ở tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn sản xuất nâng cao với thước đo tổng hợp năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng lên.
Theo như các nhà kinh tế học trường khái này (đã nêu ở phần tổng quan) thì đối với các nước đang phát triển chiều rộng vẫn là chủ đạo trong yếu tố tăng trưởng. Như vậy, chất lượng tăng trưởng được quan niệm theo nguồn gốc tăng trưởng. Theo đó, để tăng trưởng có hiệu quả kinh tế cao, cần đầu tư nâng cao chất lượng ngành giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, nghiên cứu triển khai. Quan điểm của Zhao Guahao (2006), Joseph E.stiglitz (2002) cũng như quan điểm của giáo sư kinh tế thuộc nhiều trường đại học ở Mỹ cho rằng tăng trưởng kinh tế có chất lượng khi cơ cấu kinh tế được đảm bảo.
Trong cơ cấu kinh tế cơ cấu kinh tế ngành kinh tế rất được xem trọng. Tính hợp lý của quan niệm này là coi chất lượng sự vật là sự biến đổi cơ cấu bên trong của sự vật, không gắn chất lượng sự vật với mục đích tồn tại, bối cảnh, môi trường, điều 10 kiện mà sự vật tồn tại. Cơ cấu ngành là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại lẫn nhau cả về lượng và chất giữa các ngành. Để làm rõ tác động của các ngành tới sự tăng trưởng của nền kinh tế cần thiết nghiên cứu thêm cơ cấu tăng trưởng.
Cơ cấu tăng trưởng thể hiện ở chỉ tiêu điểm phần trăm đóng góp của các ngành vào tăng trưởng và chỉ tiêu tỷ trọng đóng góp của mỗi bộ phận trong 100% mức tăng trưởng. Cơ cấu tăng trưởng có thể xem xét theo khu vực thể chế, thành phần kinh tế, vùng, miền và theo yếu tố sản xuất: vốn, lao động, TFP. Trước đây cũng đã có một lý thuyết kinh tế đã khẳng định mối gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu ngành kinh tế và mức độ phát triển của nền kinh tế. Tiêu biểu nhất phải kể đến lý thuyết “cất cánh” của Rostow.
Rostow đã tổng hợp theo lịch sử các giai đoạn phát triển trong hiện đại thành 5 giai đoạn đó là giai đoạn “xã hội truyền thống”, giai đoạn “chuẩn bị cất cánh”, giai đoạn “cất cánh”, giai đoạn “trưởng thành” và giai đoạn “tiêu dùng cao”. Ứng với mỗi giai đoạn lại có những đặc trưng riêng được dễ dàng nhận biết qua sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế với quy luật chung là khi nền kinh tế đạ trạng thái phát triển càng cao thì tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm càng thấp, dần nhường chổ cho các ngành công nghiệp và dịch vụ. Một lý thuyết khác đó là lý thuyết về thay đổi cơ cấu của Hollis Chenery, dựa vào nghiên cứu về sự thay đổi của thu nhập bình quân đầu người ứng với các giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nhiều nước trên thế giới ông đưa ra kết luận: tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm dần, tỷ trọng trong công nghiệp có xu hướng tăng dần ứng với GDP/ng tằng dần. Gần đây người ta bàn kỹ hơn khía cạnh xã hội nhiều hơn của tăng trưởng chẳng hạn quan niệm của Rizwanul (nhà kinh tế thuộc tổ chức ILO) như đã đề cặp đến ở phần trước và còn là quan niệm của các nhà kinh tế học của các tổ chức OXFAM.
Phúc lợi xã hội không chỉ thể hiện ở thu nhập bình 11 quân đầu người mà còn là chất lượng của cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập và chăm sóc sức khỏe,…. Nếu quá quan tâm đến tăng trưởng mà ít chú ý đến công bằng xã hội sẽ dẫn đến bất ôn xã hội và tăng trưởng thể bền vững, ngược lại, nếu quá đề cao công bằng xã hội thì không có động lực để thúc đẩy tăng trưởng. Sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăng trưởng kinh tế. Vấn đề tăng trưởng mới chỉ được các nhà kinh tế trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ lâu.
Vấn đề chất lượng tăng trưởng kinh tế được các nhà kinh tế Việt Nam xem xét theo nhiều góc độ khác nhau. Một số cho rằng tăng trưởng có chất lượng khi nâng cao chất lượng tăng trưởng được đặc trưng ở những yêu cầu chủ yếu như là: Phát huy được lợi thế so sánh nhằm tăng trưởng nhanh và đạt hiệu quả kinh tế cao, đẩy mạnh xuất khẩu; tăng nhanh được năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ và tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường (Lê Đức Huy (2004)). Chất lượng tăng trưởng được tiến hành đánh giá như: (1) chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (2) hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào đặc biệt là đóng góp của TFP vào tăng trưởng; (3) khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế; (4) phân phối thành quả tăng trưởng; (5) tăng trưởng đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường (Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (2006)). Hay đánh giá chất lượng tăng trưởng dưới góc độ hiệu quả sản xuất bằng cách ước lượng mức độ đóng góp của các yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất (vốn, lao động, tiến bộ công nghệ) tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam của Nguyễn Hữu Hiểu (2009).