Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nước là tài nguyên thiết yếu quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội, gắn liền với công tác xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phát triển nông nghiệp nông thôn và bảo vệ môi trường. Tại Việt Nam, tài nguyên nước đang chịu áp lực lớn trước tình trạng gia tăng dân số, phát triển kinh tế và các bất cập trong quản lý, dẫn đến suy giảm cả về trữ lượng lẫn chất lượng. Thực tế cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về khả năng tiếp cận nước sạch giữa các vùng miền: trong khi tỷ lệ dân số thành thị được tiếp cận nước sạch đạt 78%, thì tỷ lệ này ở khu vực nông thôn chỉ đạt khoảng 44%. Người dân nông thôn phần lớn phải dựa vào các nguồn nước tự nhiên như nước mưa, nước ngầm từ giếng khoan, giếng khơi hoặc nước mặt từ sông suối, ao hồ mà không qua kiểm soát chất lượng.

Tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, toàn bộ người dân trên địa bàn đều sử dụng trực tiếp các nguồn nước tự nhiên phục vụ đời sống hằng ngày do chưa có hệ thống cấp nước sạch tập trung. Hoạt động canh tác nông nghiệp, chăn nuôi gia súc và thói quen sinh hoạt chưa hợp vệ sinh đang đe dọa trực tiếp đến chất lượng các nguồn nước này. Xuất phát từ bối cảnh thực tế đó, tác giả Lý Thị Thu Hường đã thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Chất lượng nước sinh hoạt và nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân xã Bế Triều huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng”.

Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Thông qua nghiên cứu chuyên đề nắm được hiện trạng chất lượng của nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
  2. Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
  3. Xác định được nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh hoạt của người dân tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Nhiệm vụ và yêu cầu của đề tài là điều tra thu thập thông tin, phân tích nhằm chỉ ra các nguồn và yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nước; số liệu phản ánh trung thực, khách quan; đồng thời đề xuất các kiến nghị có tính khả thi, phù hợp điều kiện địa phương. Về ý nghĩa, đề tài phản ánh bức tranh môi trường nước sinh hoạt tại chỗ, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm suy thoái và cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho công tác quy hoạch, xây dựng chính sách cấp nước sạch của chính quyền địa phương.

  • Đối tượng nghiên cứu: Nước sinh hoạt và một số hoạt động sản xuất, tập quán sinh hoạt của người dân ảnh hưởng đến môi trường nước.
  • Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 15/01/2014 đến ngày 30/04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, đề tài dựa trên các định nghĩa chuyên ngành về nước mặt (nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo), nước ngầm (nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất) và nước sinh hoạt (nước phục vụ ăn uống, vệ sinh của con người). Nghiên cứu tổng hợp các cơ chế gây ô nhiễm nguồn nước từ tự nhiên (lũ lụt, thiên tai) và nhân tạo (nước thải sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, chất thải chăn nuôi), cùng các biểu hiện suy giảm chất lượng nước như giảm pH, tăng hàm lượng ion kim loại nặng (Pb, Hg, Cd, As, Cu, Zn), tăng anion và suy giảm nồng độ oxy hòa tan (DO).

Khung pháp lý và hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng trong khóa luận bao gồm:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 (thông qua ngày 29/11/2005, hiệu lực ngày 01/07/2006).
  • Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 (thông qua ngày 21/06/2012, hiệu lực ngày 01/01/2013).
  • Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/07/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch.
  • Thông tư số 21/2012/TT-BTNMT ngày 19/12/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường.
  • Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 25/08/2000 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020.
  • Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT ngày 11/03/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tiêu chuẩn ngành về vệ sinh nước sạch.
  • Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam.
  • Các quy chuẩn so sánh: QCVN 08:2008/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 09:2008/BTNMT (chất lượng nước ngầm) và QCVN 02:2009/BYT.

Các phương pháp nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm đã triển khai:

  • Phương pháp thu thập số liệu: Kế thừa tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, báo cáo quản lý môi trường từ UBND xã Bế Triều và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát hiện trạng địa hình, mạng lưới sông ngòi, ao hồ, vị trí các nguồn phát thải ô nhiễm (chuồng trại, hố xí, bãi rác tự phát).
  • Phương pháp phỏng vấn điều tra xã hội học: Phát 50 phiếu điều tra ngẫu nhiên tới các hộ gia đình trên 21 xóm nhằm đánh giá tập quán sử dụng nước, cảm quan chất lượng nước và nhu cầu dùng nước sạch.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Lấy 4 mẫu nước đại diện vào ngày 20/02/2014 theo quy trình TCVN 5992:1995 và TCVN 5993:1995:
    • Mẫu nước mặt: Ký hiệu M1 (Mỏ nước Đà Lạn) và M2 (Hồ Nà Tấu).
    • Mẫu nước ngầm: Ký hiệu N1 (Giếng đào hộ ông Phạm Văn Hữu) và N2 (Giếng khoan UBND xã Bế Triều).
    • Phân tích 4 chỉ tiêu tại Viện Khoa học sự sống theo tiêu chuẩn quốc gia: pH (TCVN 6492-1999), Asen tổng số (Asts) (TCVN 6626:2000), Sắt tổng số (Fe) (TCVN 6177-1996) và Độ cứng (TCVN 6224:1996).
  • Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu: Nhập liệu và tính toán bằng phần mềm Microsoft Excel, so sánh đối chiếu giá trị đo đạc với các quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT và QCVN 09:2008/BTNMT.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần mở đầu tập trung luận giải tầm quan trọng của nước sạch đối với đời sống con người và phát triển bền vững. Tác giả chỉ rõ nghịch lý giữa tốc độ gia tăng dân số, phát triển kinh tế với tình trạng ô nhiễm, suy giảm trữ lượng nước trên phạm vi cả nước. Đặc biệt, phân tích sự chênh lệch lớn giữa khu vực thành thị (78% dân số có nước sạch) và nông thôn (chỉ đạt 44%), qua đó xác lập tính cấp thiết của việc đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt và nhu cầu sử dụng nước sạch tại địa bàn nông thôn miền núi như xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học và pháp lý về tài nguyên nước tại Việt Nam:

  • Nêu rõ các khái niệm cơ bản về nước mặt, nước ngầm, nước sinh hoạt, cùng các nguồn gây ô nhiễm tự nhiên và nhân tạo.
  • Khái quát hiện trạng khai thác nước cho các ngành: nông nghiệp (tưới cho hơn 9 triệu ha đất canh tác, dự kiến đến năm 2020 diện tích lúa đạt 6,2 triệu ha với nhu cầu nước tăng 72%), thủy điện (tiềm năng lý thuyết 308 tỷ kWh, trữ năng kỹ thuật 72 tỷ kWh, thủy điện cung cấp 51% sản lượng điện quốc gia năm 2013), và cấp nước đô thị - nông thôn.
  • Cập nhật số liệu kiểm nghiệm năm 2013 trên 185 nguồn nước thuộc 16 xã trên toàn quốc: chỉ có 1,1% nguồn nước đạt chuẩn vệ sinh; 58,47% đạt chỉ tiêu hóa lý; 1,1% đạt chỉ tiêu vi sinh vật (trong đó 72,95% ô nhiễm vi sinh mức độ cao).
  • Tổng hợp nguy cơ ô nhiễm Asen từ các khảo sát của Chính phủ và UNICEF (2011 - 2013) trên 71.000 giếng khoan thuộc 17 tỉnh, chỉ ra tỷ lệ giếng nhiễm Asen từ 0,1 - 0,5 mg/l dao động từ 59,6% đến 80% ở các vùng trọng điểm.
  • Nêu tác động sức khỏe của nước ô nhiễm: hơn 300 loại bệnh lây truyền qua nước, tỷ lệ trẻ em nhiễm giun sán (44%) và suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi (27%), cùng tác hại nhiễm độc Asen mãn tính (dày sừng, ung thư da, tổn thương nội tạng).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác định cụ thể đối tượng, phạm vi không gian (xã Bế Triều) và thời gian (15/01/2014 - 30/04/2014). Tác giả trình bày chi tiết quy trình triển khai:

  • Nội dung nghiên cứu gồm 4 hợp phần: điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; hiện trạng chất lượng nước; nhu cầu sử dụng nước sạch; đề xuất giải pháp.
  • Mô tả quy trình lấy mẫu nước mặt và nước ngầm theo TCVN, thao tác súc rửa chai và lấy trực tiếp tại vòi hoặc tầng nước mặt.
  • Danh mục thiết bị, tiêu chuẩn phân tích 4 chỉ tiêu (pH, Asts, Fe, độ cứng) tại Viện Khoa học sự sống.
  • Thiết kế mẫu phiếu phỏng vấn 50 hộ dân tại 21 xóm và phương pháp xử lý số liệu thống kê.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Bế Triều

Xã Bế Triều có diện tích tự nhiên 2473,73 ha. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 2139,23 ha (86,48%), đất phi nông nghiệp chiếm 275,38 ha (11,13%) và đất chưa sử dụng là 59,12 ha (2,39%). Dân số năm 2013 là 5.682 người với 1.385 hộ; lao động chính có 4.076 người (chiếm 71,73%). Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 5%, thu nhập bình quân đầu người đạt 11 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế thuần nông: nông - lâm nghiệp chiếm 80%, chăn nuôi 15%, thương mại - dịch vụ chỉ chiếm 5%. Toàn bộ 100% hộ dân đã có điện lưới quốc gia, nhưng hệ thống nước sinh hoạt tự chảy (3 bể áp lực) mới đáp ứng được khoảng 40% số hộ.

2. Hiện trạng các nguồn nước sinh hoạt

Toàn bộ 100% hộ dân xã Bế Triều phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên chưa qua xử lý quy chuẩn. Cơ cấu sử dụng nước của 1.369 hộ dân trên 21 xóm được tổng hợp như sau:

Nguồn nước sinh hoạt Số hộ sử dụng Tỷ lệ (%)
Nước giếng đào 505 36,89
Nước giếng khoan 230 16,80
Nguồn nước khác (sông, suối, mạch núi) 634 46,31
Tổng cộng 1.369 100,00

3. Đánh giá chất lượng nước qua phân tích phòng thí nghiệm

Kết quả phân tích 4 mẫu nước tại Viện Khoa học sự sống đối chiếu với quy chuẩn quốc gia:

Mẫu phân tích Vị trí lấy mẫu pH Asts (mg/l) Fe (mg/l) Độ cứng (mg/l)
Nước mặt M1 Mỏ nước Đà Lạn 8,21 0,005 0,135 77,75
Nước mặt M2 Hồ Nà Tấu 8,55 0,003 0,330 183,25
QCVN 08:2008/BTNMT (A1) Quy chuẩn nước mặt 6,0 - 8,5 0,01 0,5 -
Nước ngầm N1 Giếng đào hộ dân 8,06 < 0,001 0,035 230,00
Nước ngầm N2 Giếng khoan UBND xã 7,80 0,002 0,051 416,00
QCVN 09:2008/BTNMT Quy chuẩn nước ngầm 5,5 - 8,5 0,001 5,0 500,00

Kết quả cho thấy: mẫu nước mặt M2 có pH = 8,55, vượt nhẹ ngưỡng quy chuẩn (6,0 - 8,5). Đáng chú ý, mẫu nước ngầm N2 từ giếng khoan có hàm lượng Asen tổng số đạt 0,002 mg/l, cao gấp 2 lần ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 09:2008/BTNMT (0,001 mg/l). Các chỉ tiêu sắt và độ cứng nằm trong giới hạn cho phép.

4. Các yếu tố phát sinh ô nhiễm và tình hình bệnh tật

  • Rác thải sinh hoạt: Lượng rác thải ước tính 0,65 kg/người/ngày (237,25 kg/người/năm), phát sinh tổng lượng rác toàn xã khoảng 1.348,054 tấn/năm. Địa phương chưa có bãi tập kết rác thải tập trung, rác hữu cơ và vô cơ thường bị vứt trực tiếp xuống ao, suối.
  • Công trình vệ sinh: Điều tra 212 hộ gia đình cho thấy: hố xí khô 1 ngăn chiếm 79,24% (168 hộ), hố xí khô 2 ngăn chiếm 20,29% (43 hộ), nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh chỉ có 1 hộ (chiếm 0,47%). Nhiều hộ đặt chuồng trại, hố xí sát giếng nước (< 10m) và xả phân chưa ủ hoai mục ra môi trường.
  • Sản xuất nông nghiệp: 1.385 hộ làm nông nghiệp lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật; tập quán súc rửa bình phun hóa chất ngay cạnh giếng nước, bờ ao diễn ra phổ biến.
  • Tình hình mắc bệnh (thống kê năm 2014): Bệnh đường tiêu hóa ghi nhận 117 lượt người mắc, bệnh ngoài da 49 lượt, bệnh giun sán 45 lượt, bệnh phụ khoa 32 lượt, sốt xuất huyết 28 lượt và đau mắt 15 lượt.

5. Đánh giá cảm quan và nhu cầu sử dụng nước sạch của nhân dân

Điều tra 50 phiếu phỏng vấn ngẫu nhiên tại 21 xóm ghi nhận:

  • Cảm quan nguồn nước: 48% số phiếu (24 phiếu) phản ánh nước có váng; 26% (13 phiếu) phản ánh nước có màu vàng; 16% (8 phiếu) phản ánh độ cứng cao đóng cặn; 10% (5 phiếu) phản ánh nước có mùi hôi tanh.
  • Đánh giá mức độ ô nhiễm:
    • Nước mặt: 56% hộ cho rằng ô nhiễm nghiêm trọng, 24% ô nhiễm trung bình, 12% ít ô nhiễm, 8% không ô nhiễm.
    • Nước ngầm: 6% cho rằng ô nhiễm nghiêm trọng, 58% ô nhiễm trung bình, 16% ít ô nhiễm, 20% cho là an toàn vì lấy từ tầng sâu.
  • Nhu cầu cấp nước sạch:
    • 36% số hộ (18 phiếu) mong muốn được sử dụng hệ thống nước máy tập trung.
    • 44% số hộ (22 phiếu) có nhu cầu dùng nước sạch nhưng e ngại chi phí lắp đặt, tiền nước máy cao nên mong muốn giải pháp xử lý tại chỗ từ giếng hoặc mạch nước ngầm.
    • 20% số hộ (10 phiếu) không có nhu cầu thay đổi, chấp nhận dùng nguồn nước tự nhiên theo tập quán cũ.

Kết quả và đóng góp

Văn bản khóa luận đã đưa ra các kết quả định lượng cụ thể:

  • Xác lập hiện trạng 100% hộ dân xã Bế Triều sử dụng nước tự nhiên chưa xử lý, trong đó 46,31% dùng nước suối, sông, mạch; 36,89% dùng giếng đào; 16,80% dùng giếng khoan.
  • Phát hiện nguy cơ ô nhiễm hóa học trong nguồn nước ngầm: mẫu nước giếng khoan N2 tại UBND xã có hàm lượng Asen tổng số (Asts) là 0,002 mg/l, vượt 2 lần giới hạn QCVN 09:2008/BTNMT; mẫu nước mặt M2 tại hồ Nà Tấu có pH đạt 8,55 vượt nhẹ ngưỡng quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT cột A1.
  • Chỉ ra mắt xích gây ô nhiễm môi trường nước tại địa phương: 79,24% hộ gia đình dùng nhà tiêu khô 1 ngăn không hợp vệ sinh, tỷ lệ nhà tiêu tự hoại chỉ đạt 0,47%; rác thải sinh hoạt phát sinh 1.348,054 tấn/năm không có bãi chôn lấp thu gom; tập quán rửa bình phun thuốc trừ sâu tại nguồn nước.
  • Xác định cơ cấu nhu cầu nước sạch: 80% hộ dân mong muốn tiếp cận nước hợp vệ sinh (36% muốn dùng nước máy tập trung, 44% muốn xử lý nguồn nước tại chỗ do rào cản chi phí).

Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp can thiệp:

  • Về quản lý nhà nước: UBND huyện Hòa An và Phòng Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường tỉnh Cao Bằng kiểm tra định kỳ; tổ chức tuyên truyền qua Tuần lễ quốc gia nước sạch và VSMT, Ngày Môi trường thế giới (5/6), Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn; thành lập đoàn kiểm tra liên ngành giám sát nguồn nước và vệ sinh an toàn thực phẩm.
  • Về giải pháp kỹ thuật hộ gia đình:
    • Đối với giếng đào: Xây dựng cách xa chuồng trại, hố tiêu > 10m; thành giếng cao hơn mặt đất 0,7m bằng gạch hoặc bê tông; quây giếng đúc sẵn đường kính 0,8m kín xung quanh; sân giếng láng xi măng rộng tối thiểu 1m có rãnh thoát nước; trang bị nắp đậy kín và giá treo gầu múc.
    • Đối với nước mặt: Nghiêm cấm chăn thả gia súc, giặt giũ và đổ rác trực tiếp xuống hồ, suối; bắt buộc đánh phèn lắng trong và khử trùng trước khi dùng.
    • Đối với nước giếng khoan: Áp dụng phương pháp lắng trong cơ học kết hợp xây dựng bể lọc gia đình đa tầng (sỏi đỡ, cát vàng, than hoạt tính) và giàn mưa làm thoáng để khử sắt và kim loại hòa tan.

Về mặt đóng góp, đề tài cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực địa đầu tiên về chất lượng nước sinh hoạt và nhu cầu nước sạch tại xã Bế Triều năm 2014. Kết quả phản ánh trung thực thực trạng vệ sinh môi trường nông thôn miền núi, làm căn cứ thực chứng cho các cơ quan quản lý hoạch định kế hoạch cấp nước và y tế dự phòng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nêu và giới hạn trong phạm vi thực hiện:

  • Dung lượng mẫu phân tích hóa lý trong phòng thí nghiệm còn ít (chỉ thu thập 4 mẫu đại diện: 2 mẫu nước mặt và 2 mẫu nước ngầm) tại một thời điểm duy nhất (ngày 20/02/2014, thuộc mùa khô), do đó chưa phản ánh được biến thiên chất lượng nước theo mùa trong năm.
  • Danh mục chỉ tiêu phân tích mới tập trung vào 4 thông số hóa lý (pH, Asts, Fe, độ cứng), chưa phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật đặc trưng (Coliform, E.coli) và các hợp chất dinh dưỡng gốc nitơ (Amoni, Nitrit, Nitrat) vốn là nguy cơ ô nhiễm lớn từ hố xí và chăn nuôi.
  • Quy mô điều tra xã hội học dừng lại ở 50 phiếu phỏng vấn trên địa bàn 21 xóm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng:

  • Mở rộng mạng lưới quan trắc, tăng số lượng điểm lấy mẫu trên toàn xã và phân tích định kỳ theo 2 mùa (mùa mưa và mùa khô).
  • Bổ sung đầy đủ các chỉ tiêu vi sinh và kim loại nặng độc hại khác để đánh giá toàn diện nguy cơ dịch bệnh.
  • Mở rộng quy mô khảo sát xã hội học nhằm đánh giá chính xác khả năng chi trả của người dân cho các mô hình trạm cấp nước sạch tập trung.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường: Tham khảo phương pháp tiếp cận kết hợp giữa điều tra xã hội học nông thôn với quan trắc, phân tích chất lượng nước thực địa; cách thiết kế bảng biểu thống kê tài nguyên đất, cơ cấu nguồn nước và phân tích cảm quan.
  • Cơ quan quản lý địa phương (UBND xã Bế Triều, Phòng TN&MT huyện Hòa An): Sử dụng các số liệu về tỷ lệ hộ dùng giếng đào (36,89%), giếng khoan (16,80%), nước suối (46,31%) và hiện trạng 79,24% hố xí khô 1 ngăn để xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới, tiêu chí vệ sinh môi trường.
  • Người dân và cán bộ khuyến nông: Tham khảo thông số quy chuẩn cấu tạo giếng đào an toàn (cách nguồn bẩn > 10m, thành cao 0,7m, sân giếng 1m) và mô hình bể lọc nước gia đình làm thoáng khử sắt bằng giàn mưa và vật liệu cát, sỏi, than.

Câu hỏi thường gặp

1. Người dân xã Bế Triều sử dụng những nguồn nước sinh hoạt nào và tỷ lệ phân bố ra sao?

Theo số liệu thống kê toàn xã năm 2013 (Bảng 4.3), 100% người dân phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên chưa qua xử lý quy chuẩn. Trong tổng số 1.369 hộ dân:

  • 634 hộ sử dụng nguồn nước suối, sông, mạch núi (chiếm tỷ lệ cao nhất: 46,31%).
  • 505 hộ sử dụng nước giếng đào (chiếm 36,89%).
  • 230 hộ sử dụng nước giếng khoan (chiếm 16,80%).

2. Kết quả phân tích chất lượng nước tại phòng thí nghiệm phát hiện những thông số nào vượt quy chuẩn?

Trong số 4 mẫu nước được kiểm nghiệm tại Viện Khoa học sự sống:

  • Nước mặt: Mẫu M2 (Hồ Nà Tấu) có độ pH = 8,55, vượt nhẹ ngưỡng giới hạn tối đa cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT cột A1 (giới hạn 6,0 - 8,5).
  • Nước ngầm: Mẫu N2 (Giếng khoan UBND xã) có hàm lượng Asen tổng số (Asts) là 0,002 mg/l, cao gấp 2 lần quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 09:2008/BTNMT (giới hạn 0,001 mg/l).

3. Những nguyên nhân chính nào gây suy thoái chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại xã Bế Triều?

Văn bản xác định 4 nguyên nhân xuất phát từ hoạt động dân sinh và sản xuất:

  • Toàn bộ xã chưa có bãi tập kết rác thải, lượng rác 1.348,054 tấn/năm thường bị đổ trực tiếp ra ao, suối.
  • Tỷ lệ nhà vệ sinh hợp chuẩn rất thấp: 79,24% là hố xí khô 1 ngăn, chỉ có 0,47% hộ có nhà tiêu tự hoại; chuồng trại gia súc đặt sát nguồn nước (< 10m).
  • Hoạt động canh tác nông nghiệp lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật và nông dân có thói quen cọ rửa bình bơm thuốc trừ sâu ngay tại miệng giếng, bờ ao.
  • Nước thải sinh hoạt và nước rửa chuồng trại không qua xử lý thấm trực tiếp vào tầng chứa nước ngầm nông.

4. Tỷ lệ người dân xã Bế Triều sẵn sàng dùng nước máy là bao nhiêu và rào cản lớn nhất là gì?

Kết quả điều tra 50 phiếu tại 21 xóm (Bảng 4.10) ghi nhận:

  • 36% số hộ (18 phiếu) mong muốn được cấp nước máy sinh hoạt.
  • 44% số hộ (22 phiếu) có nhu cầu dùng nước sạch nhưng e ngại chi phí lắp đặt và tiền nước máy định kỳ vượt quá khả năng kinh tế, do đó ưu tiên giải pháp lọc nước giếng/nước mạch tại chỗ.
  • 20% số hộ (10 phiếu) không muốn dùng nước máy do thói quen sinh hoạt và không muốn tốn chi phí.

5. Tác giả đưa ra hướng dẫn kỹ thuật cụ thể nào để xây dựng giếng đào hợp vệ sinh?

Tác giả khuyến nghị quy chuẩn xây dựng giếng đào hộ gia đình gồm:

  • Vị trí giếng phải cách xa chuồng trại chăn nuôi, nhà tiêu và rãnh nước thải tối thiểu 10 m.
  • Miệng giếng phải xây thành gạch hoặc đổ bê tông cao hơn mặt đất ít nhất 0,7 m để tránh nước tràn bề mặt.
  • Lòng giếng sử dụng các ống cống bê tông đúc sẵn đường kính 0,8 m nối kín khít.
  • Sân giếng phải lát gạch hoặc láng xi măng rộng cách thành giếng ít nhất 1 m, có độ dốc và rãnh thoát nước thải ra xa.
  • Giếng phải có nắp đậy kín và trang bị giá treo gầu múc nước cao ráo.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lý Thị Thu Hường đã phản ánh toàn diện thực trạng chất lượng nước sinh hoạt và nhu cầu sử dụng nước sạch của nhân dân xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng vào năm 2014. Nghiên cứu chỉ ra rằng 100% người dân địa phương đang sử dụng các nguồn nước tự nhiên chưa qua xử lý, trong đó nguồn nước ngầm giếng khoan đã xuất hiện nguy cơ ô nhiễm Asen vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia gấp 2 lần dưới áp lực lớn từ hố xí không hợp vệ sinh và chất thải nông nghiệp. Công trình đã làm rõ 80% nhu cầu tiếp cận nước hợp vệ sinh của người dân, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp kỹ thuật xử lý nước phân tán tại hộ gia đình kết hợp các biện pháp quản lý nhà nước cấp huyện, đóng góp nguồn tư liệu thực tiễn cho công tác quy hoạch hạ tầng nông thôn tại địa phương.