MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn xây dựng và bảo vệ tổ quốc. mỗi giai đoạn thì tình hình kinh tế, chính trị đất nước lại có nhiều điểm khác nhau. Vì vậy công tác quản lý đất đai cũng theo đó mà có những biến đổi không ngừng qua các thời kỳ.
Qua mỗi thời kỳ dù mức độ khác nhau nhưng ta đều thấy rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác quản lý đất đai, đặc biệt là công tác đăng ký đất đai cấp GCNQSDĐ. do đất đai là nguồn tài nguyên có hạn vô cùng quý giá. Nó có vị trí địa lý cố định và không thể di rời và có thời gian sử dụng vĩnh viễn. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng.
Công tác đăng ký đất đai có vị trí cực kỳ quan trọng trong công tác quản lý đất đai của nhà nước. nó xác lập mối quan hệ pháp lý về quyền sử dụng đất đai giữa nhà nước và người sử dụng đất. đảm bảo thống nhất quản lý, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Giúp người sử dụng đất yên tâm sử dụng và cũng là pháp lý cho việc thu tiền sử dụng đất, tăng ngân sách nhà nước phục vụ cho các công tác phát triển đất nước đi lên.
Hiện nay, công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ, lập hồ sơ địa chính được thực hiện dựa trên các văn bản pháp lý như luật đất đai 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Thông tư 17/2009/TT-BTNMT,…. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đồng thời thúc đẩy quá trình công nhiệp hóa, hiện đại hóa đã đưa đất nước phát triển nhanh chóng. Các cơ sở hạn tầng được xây dựng ồ ạt, kéo theo đó là nhu cầu về sử dụng đất tăng cao cho các hoạt động nhà ở, kinh doanh, dịch vụ ngày càng phát triển, dẫn đến việc quỹ đất ngày càng hạn hẹp. việc đó đã làm cho giá trị 2 quyền sử dụng đất tăng lên nhanh chóng.
Vấn đề cấp bách đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về đất đai là phải có những biện pháp quản lý chặt chẽ và có hiệu quả. Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như tránh xảy ra tranh chấp đất đai gây mất trật tự xã hội. Xuất phát từ thực tế nhu cầu về cấp GCNQSDĐ và được sự nhất trí của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS. Nguyễn Quang Thi.
Em được giới thiệu thực tập tại Công ty cổ phần Địa chính môi trường và Tài nguyên môi trường Biển, với mong muốn áp dụng các kiến thức đã học tại nhà trường vào thực tiễn công tác đăng ký, kê khai cấp đổi GCNQSDĐ và học hỏi kinh nghiệm, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực hiện cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Yên Bài, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm 2018". Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá công tác cấp đổi GCNQSDĐ tại xã Yên Bài. - Đưa ra những thuận lợi khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác cấp GCNQSDĐ tại xã Yên Bài. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho em có sự liên hệ giữa lý thuyết và thực tế, củng cố kiến thức đã được học và nghiên cứu trên nhà trường và có kinh nghiệm hoạt động trong công tác cấp GCNQSDĐ. - Giúp cho bản thân em có những kiến thức hiểu biết cần thiết về tình hình quản lí đất đai trên địa bàn xã. - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế nhằm phục vụ cho công tác sau này. - Nắm vững những quy định của Luật Đất đai 2013 và các văn bản dưới 3 Luật về đất đai của Trung ương và địa phương về cấp GCNQSDĐ nói chung và cấp đổi GCNQSDĐ nói riêng.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện công tác cấp đổi GCNQSDĐ sẽ thấy được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện, từ đó rút ra những kinh nghiệm và tìm những giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của tường địa phương nhằm thúc đẩy công tác thực hiện cấp GCNQSDĐ nói riêng và công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số khái niệm về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2. Đăng kí đất đai * Khái niệm đăng kí đất đai: Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước (với tư cách là đại diện chủ sở hữu) và người sử dụng đất được Nhà nước giao quyền sử dụng, nhằm thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ để quản lý thống nhất đối với đất đai theo pháp luật, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những chủ sử dụng đất có đủ điều kiện, để xác lập địa vị pháp lý của họ trong việc sử dụng đất đối với Nhà nước và xã hội.
* Hình thức đăng ký đất đai: Có hai hình thức đăng ký là đăng ký tự nguyện và đăng ký bắt buộc. Theo quy mô và mức độ phức tạp của công việc về đăng ký trong từng thời kỳ đăng ký đất đai được chia thành 2 giai đoạn: - Giai đoạn 1: đăng ký đất ban đầu được tổ chức thực hiện lần đầu trên phạm vi cả nước để thiết lập hồ sơ địa chính ban đầu cho toàn bộ đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các chủ sử dụng đủ điều kiện. - Giai đoạn 2: đăng ký biến động đất đai thực hiện ở những địa phương đã hoàn thành đăng ký ban đầu cho mọi trường hợp có nhu cầu thay đổi nội dung của hồ sơ địa chính đã thiết lập. * Vai trò của công tác đăng ký đất đai: Đăng ký đất đai là công cụ của Nhà nước đảm bảo lợi ích nhà nước, cộng đồng, công dân như quản lý nguồn thuế, Nhà nước với vai trò trung gian tiến hành cân bằng lợi ích giữa các chủ thể, bố trí có mụch đích sử dụng tốt 5 nhất.
Nhà nước biết được cách để quản lý lợi ích chung qua việc dung công cụ đăng ký đất đai để quản lý đất đai. Lợi ích công dân có thể thấy được là Nhà nước bảo vệ quyền và bảo vệ công dân khi có các tranh chấp, khuyến khích đầu tư cá nhân, hỗ trợ các giao dịch về đất đai, giảm khả năng tranh chấp. Là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, thực chất là sở hữu Nhà nước, Nhà nước chia cho dân sử dụng bề mặt, không đươc khai thách trong lòng đất và trên không, nếu muốn khai thác trong lòng đất hoặc trên không thì phải có sự cho phép của Nhà nước. bảo vệ quyền sở hữu toàn dân nghĩa là bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp và giám sát nghĩa vụ theo quy định của pháp luật để đảm bảo lợi ích chung toàn xã hội.
vì vậy đăng ký đất đai có vai trò thiết lập hệ thống thông tin về đất đai, đây là công cụ giúp Nhà nước quản lý. Đăng ký đất đai là điều kiện để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất. Biết được mục đích sử dụng và từ đó điều chỉnh hợp lý các thông tin hồ sơ địa chính. Hồ sơ địa chính cung cấp các thông tin gồm tên chủ sử dụng, diện tích, vị trí, hình thể, góc cạnh, hạng đất, thời hạn sử dụng, mục đích sử dụng, những rằng buộc về quyền sử dụng hay những thay đổi trong quá trình sử dụng đất và cơ sở pháp lý của những thay đổi đó.
Quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất là toàn bộ các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành trong đó quy định việc bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất để sử dụng. "Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất" (theo Điều 688 Bộ Luật Dân sự). Đất đai có thể đem lại rất nhiều lợi ích cho chủ sở hữu đất, và việc sở hữu đất đai như thế nào cho hợp lý để đảm bảo sự phát triển ổn định hoà 6 bình, công bằng xã hội lại là vấn đề hết sức hóc búa đối với mỗi quốc gia cũng như toàn thể nhân loại. Chế độ quản lý và sử dụng đất đai hiện hành của nước ta là sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý, nhân dân được trực tiếp sử dụng và có quyền của người sử dụng đất.
Để quy định, bảo vệ và thực thi chế độ này Nhà nước ta đã đưa ra các văn bản pháp luật, pháp lý quy định cụ thể. Đó là Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 (Điều 19), Hiến pháp 1992 (Điều 17,18, 84), Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998, năm 2001 quy định về quyền sở hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, chế độ quản lý đất đai thống nhất của Nhà nước cũng như quy định rõ quyền hạn trách nhiệm, các công tác quản lý đất và quyền hạn trách nhiệm của người sử dụng đất. Ngày 26/11/2003 Quốc Hội ban hành Luật đất đai 2003 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2014 nhằm hoàn hiện hơn, chặt chẽ hơn cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai và mới nhất là Luật đất đai 2013 số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01/07/2014 được đưa ra để cụ thể hóa quyền của Nhà nước đối với đất đai, bổ sung các nội dung chính, quy định rõ ràng và chi tiết các đối tượng được nhà nước giao, cho thê đất. Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Nhà ở là tài sản luôn gắn liền với đất đai, hơn thế nữa nhà ở đặc biệt quan trọng, quý giá đối với mỗi con người, mỗi gia đình cũng như toàn xã hội.
Nhà ở lại là tài sản có giá trị lớn do con người tạo lập nhằm thoả mãn cho nhu cầu của mình, vì vậy nảy sinh và tồn tại quyền sở hữu về nhà ở.