Chương 1. Cơ sở khoa học về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thực trạng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh.
Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh. 12 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 1.
Khái niệm, đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Về mặt pháp lý, khái niệm công chức được định nghĩa tại Khoản 2, Điều 4, Luật CBCC năm 2008, cụ thể: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Căn cứ định nghĩa nêu trên có thể thấy theo quy định của pháp luật, một người được xác định là công chức khi đồng thời thỏa mãn cả bốn điều kiện sau: Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam. Khoản 1, Điều 17, Hiến pháp năm 2013 quy định công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Điều 1, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2014) quy định Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam.
Việc quy định công chức phải là công dân Việt Nam về cơ bản là hợp lý. Vì công chức là thành phần cơ bản và chủ yếu trong đội ngũ nhân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, đòi hỏi lợi ích riêng của công chức phải thống nhất với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, nghề công chức đòi hỏi động lực làm việc ngoài các động cơ tư lợi thông thường, còn phải có động cơ từ lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm và sự cống hiến cho tổ quốc.
Cả hai yêu cầu này về cơ bản người không phải là công dân Việt Nam thường không thể đáp ứng được. Nên nếu cho phép người không có quốc tịch Việt Nam trở thành công 13 e chức có thể gây phương hại cho nền độc lập của quốc gia và lợi ích của dân tộc. Thứ hai, phải là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập). Yêu cầu thứ hai này xác định rõ cách thức hình thành và nơi làm việc của công chức.
Thứ ba, phải trong biên chế. Biên chế là khái niệm được sử dụng 16 lần trong Luật CBCC năm 2008; là khái niệm chính xuất hiện trong tên gọi của Nghị định số 21/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 08/3/2010 về quản lý biên chế công chức (sau đây gọi tắt là Nghị định số 21/2010/NĐ-CP); cũng là khái niệm xuất hiện thường xuyên trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tuy vậy, điều ngạc nhiên là khái niệm này lại không được các văn bản quy phạm pháp luật định nghĩa nhằm làm rõ nội hàm của khái niệm. Tra cứu từ điển tiếng Việt cho thấy khái niệm biên chế (biên chế hành chính) được hiểu là số người chính thức làm việc trong cơ quan, xí nghiệp theo quy định của Nhà nước [72, tr.
Dựa vào định nghĩa nêu trên, đồng thời căn cứ vào các quy định của Nghị định số 21/2010/NĐ-CP có thể hiểu biên chế là số lượng người làm việc chính thức trong tất cả các cơ quan hoặc từng cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội quyết định hoặc phê duyệt theo quy định tại Điều 66, Luật CBCC năm 2008. Như vậy, trong biên chế có thể hiểu là cá nhân được xác định là công chức phải đảm nhận ít nhất một công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức mà công việc này được dùng làm căn cứ để xác định biên chế của cơ quan, tổ chức nơi mà cá nhân này làm việc. Thứ tư, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở khái niệm công chức được quy định tại Khoản 2, Điều 4, Luật CBCC năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức (sau đây gọi tắt là Nghị định số 06/2010/NĐ-CP).
Nghị 14 e định số 06/2010/NĐ-CP sau đó được hướng dẫn bởi Thông tư số 08/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ ban hành ngày 02/6/2011. Nghị định số 06/2010/NĐ-CP và Thông tư số 08/2011/TT-BNV đã xác định rõ những người là công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và đơn vị sự nghiệp công lập. Về khái niệm “công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh”, trên cơ sở khái niệm công chức đã trình bày ở trên có thể hiểu công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 04/4/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Nghị định số 24/2014/NĐ-CP) thì cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh được gọi chung là “sở”.
Điều 8, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định có 17 sở (i - xvii) được tổ chức thống nhất ở các địa phương và 03 sở (xviii - xx) đặc thù được tổ chức ở một số địa phương, gồm: (i) Sở Nội vụ; (ii) Sở Tư pháp; (iii) Sở Kế hoạch và Đầu tư; (iv) Sở Tài chính; (v) Sở Công thương; (vi) Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; (vii) Sở Giao thông vận tải; (viii) Sở Xây dựng; (ix) Sở Tài nguyên và Môi trường; (x) Sở Thông tin và Truyền thông; (xi) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; (xii) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; (xiii) Sở Khoa học và Công nghệ; (xiv) Sở Giáo dục và Đào tạo; (xv) Sở Y tế; (xvi) Thanh tra tỉnh; (xvii) Văn phòng UBND tỉnh; (xviii) Sở Ngoại vụ; (xix) Ban Dân tộc; (xx) Sở Quy hoạch - Kiến trúc. Ngày 07/8/2018 Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 34-KL/TW về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Kết luận số 34-KL/TW tập trung vào 06 vấn đề, trong đó có 03 vấn đề liên quan đến tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, gồm: (i) Thí điểm hợp nhất cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy với cơ quan chuyên môn (hoặc tham mưu) thuộc UBND có chức năng, nhiệm vụ tương đồng ở cấp tỉnh; (ii) Thí điểm hợp nhất các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; (iii) Thí điểm hợp nhất văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội, văn phòng Hội đồng nhân dân và văn phòng UBND cấp tỉnh thành một văn phòng tham mưu, giúp việc chung. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 6, Nghị định số 06/2010/NĐ-CP thì công chức 15 e các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh được xác định như sau: (i) Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ cấu tổ chức của Văn phòng UBND tỉnh; (ii) Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.
Như vậy, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh gồm: (i) Giám đốc sở, Phó Giám đốc sở; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng UBND cấp tỉnh; (ii) Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng và người làm việc trong Văn phòng thuộc sở; (iii) Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và người làm việc trong Thanh tra sở; (iv) Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và người làm việc trong các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc sở; (v) Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng và người làm việc trong Chi cục thuộc sở. Vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Vai trò là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó [72, tr.