CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÂN SỰ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nhân sự Nhân sự được hiểu là tất cả những người tham gia vào các hoạt động của tổ chức bất kể họ làm gì giữ vị trí hay cương vị gì trong tổ chức đó [3,tr.11] Nhân sự trong một tổ chức có vai trò quan trọng, bất kỳ tổ chức nào hoạt động cũng cần phải liên quan đến con người trong tổ chức, không một tổ chức nào có thể tách con người ra khỏi hoạt động của tổ chức. Con người vừa là một yếu tố tham gia cấu thành nên tổ chức, vừa là chủ thể trong các quá trình hoạt động của tổ chức [5,tr.
Khái niệm về quản lý Cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt biết sang thế kỷ 21 các quan niệm về quản lý càng phong phú hơn. Dưới đây là một số khái niệm: Theo Tailor : Làm quản lý là bạn phải biết rõ bạn muốn người khác phải làm gì và chú ý đến tốt nhất kinh tế nhất mà họ làm[9,tr. Theo Fayel : Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là : kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.Quản lý chính là thực hiện các kế hoạch, tổ chức chỉ đạo,điều chỉnh và kiểm soát [21,tr.
Theo Hart Koont :Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định[21,tr. Theo sách Khoa Học Quản Lý: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường[9,tr. Khái niệm Quản lý nhân sự: Quản lý nhân sự là một bộ phận của quản lý. Quản lý suy cho cùng thực chất là quản lý con người, chính vì vậy cũng có nhiều khác niệm khác nhau về quản lý nhân sự Quản lý nhân sự là việc tuyển mộ, tuyển chọn,duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp những tiện nghi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức [10,tr.
Quản lý nhân sự là việc bố trí, sử dụng những người lao động, cùng với máy móc, thiết bị, những phương pháp công nghệ, công nghệ sản xuất, những nguồn nguyên nhiên liệu một cách có hiệu quả nhất trong tổ chức [11,tr. Quản lý nhân sự là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ tổ chức, là đối xử của tổ chức doanh nghiệp với người lao động. Quản lý nhân sự chịu trách nhiệm đưa người lao động vào doanh nghiệp giúp họ thực hiện các công việc, trả thù lao cho người lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh[14,tr. Tóm lại Quản lý nhân sự là: Tổng thể các hoạt động nhằm thu hút hình thành, xây dựng, sử dụng và duy trì phát triển một lực lượng lao động có hiệu quả đáp ứng yêu cầu hoạt động của tổ chức, đảm bảo thực hiện thắng lợi những mục tiêu và thoả mãn người lao động tốt nhất.
Một số học thuyết về quản lý nhân sự Quản lý cấp cao nhất vẫn là quản lý con người. Chính vì vậy các thuyết quản lý tựu chung lại đều có thể là cơ sở cho thuyết quản lý nhân sự .Thuyết X Thuyết con người kinh tế(Taylor, Gant, Ghinbert, Fayol…). Thuyết chủ trương sử dụng quyền lực trong quản lý để điều khiển và quyền lợi vật chất cùng hình phạt để thúc đẩy[18,tr. 5 Thuyết này cho rằng: bản chất của con người là lười biếng, máy móc.
Con người chỉ làm việc cầm chừng để kiếm sống và luôn lẩn tránh công việc. Vì vậy phải phân chia công việc thành các thao tác lặp đi lặp lại để dễ học và dễ quản lý. Các nhà quản lý thường xuyên giám sát, kiểm tra việc thực hiện công việc các nhân viên. Sử dụng hệ thống có trật tự rõ ràng và một chế độ khen thưởng, trừng phạt nghiêm khắc.
Với phong cách quản lý này làm cho nhân viên cảm thấy lo lắng và sợ hãi. Lao động chấp nhận các công việc nặng nhọc với mức lương cao và người chủ hà khắc.Với định mức lao động thường rất cao đòi hỏi công nhân phải làm việc cật lực làm cho người lao động dễ rơi vào cảm giác mệt mỏi. Công nhân bị gắn chặt với dây chuyền sẽ biến thành những công cụ biết nói, bị méo mó về tâm sinh lý. Người lao động gắn chặt vào một vị trí làm cho họ thụ động không phát huy được tính sáng tạo.Thuyết Y Thuyết con người xã hội(Gregor, Maslow, Likest…).
Thuyết tin vào bản chất tốt đẹp của con người quan tâm đến các yếu tố tự tạo ra động cơ làm việc sáng tạo, tự chủ và tự hoàn thiện[18 tr. Thuyết này dựa trên những thành quả của tâm lý học, coi trọng yếu tố con người và quan hệ xã hội. Động lực người lao động không chỉ là lợi ích vật chất mà còn là tâm lý xã hội và ảnh hưởng của tập thể. Thuyết này đánh giá tiềm ẩn trong con người là những khả năng rất lớn cần được khơi gợi và khai thác.
Con người ở bất kỳ cương vị nào cũng có tinh thần trách nhiệm cao và làm việc hết sức để hoàn thành các công việc được giao. Các nhân viên cần được tôn trọng, được chia sẻ,được tự khẳng định mình. Phương pháp quản lý được áp dụng là thông qua sự tự giác, tạo điều kiện thuận lợi để nhân viên chủ động làm việc. Nhà quản lý phải tin tưởng chủ động lôi cuốn nhân vào công việc, có quan hệ hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa cấp trên và cấp dưới.
Thuyết đã đóng góp vào cho sự nghiên cứu và thực hành quản lý các nhà 6 quản lý hiểu rõ hơn về động lực hoạt động của con người và ảnh hưởng của tập thể với cá nhân, mối quan hệ nhân sự trong công việc. Tuy nhiên việc chú ý quá mức đến yếu tố con người làm cho thuyết xa rời thực tế, không phải lúc nào con người được thỏa mãn cũng làm cho năng suất lao động cao 1. Thuyết Z Thuyết này cho rằng sự quan tâm đến con người và yêu cầu con người làm việc tận tâm với tinh thần cộng đồng là chìa khóa dẫn tới năng suất lao động cao. Gắn người lao động vào tổ chức, sự tế nhị trong cư xử và phối hợp chặt chẽ trong tổ chức là yếu tố quyết định đến sự thành công của tổ chức.
Thuyết này các nhà quản lý quan tâm đến nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được học hành, phân chia quyền lợi công bằng[12, tr. Phương pháp này làm người lao động trung thành với tổ chức, gắn bó lâu dài với tổ chức, có tinh thần tập thể cao. Thuyết thành công nhất đó là gắn người lao động vào trong công ty, người lao động coi công ty như gia đình làm việc luôn coi trong đến lợi ích tập thể, lợi ích của công ty. Vai trò, mục tiêu của quản lý nhân sự: Bất kỳ tổ chức nào cũng cần đến một yếu tố đặc biệt quan trọng đó là lao động.
Lao động vừa là một yếu tố tham gia cấu thành tổ chức (xét về mặt cơ cấu tổ chức) vừa là chủ thể trong quá trình hoạt động của cơ quan, đơn vị (xét về địa vị các yếu tố, mối quan hệ nội tại trong tổ chức). Bởi vì lao động không chỉ tạo ra năng lực hoạt động theo số lượng sức lao động hiện có mà còn chủ động sáng tạo làm cho năng lực hoạt động được tăng cường hơn rất nhiều trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Cho dù các cơ quan, đơn vị có đầu tư trang bị các thiết bị hiện đại, tinh xảo đến đâu cũng phải chịu sự điều khiển trực tiếp hay gián tiếp của người lao động. Quản lý nhân sự đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các tổ chức.
Do đó việc khai thác tốt nguồn lực này để phục vụ phát triển doanh 7 nghiệp, đơn vị, tổ chức và xã hội là một vấn đề quan trọng trong việc quản lý các tổ chức và doanh nghiệp.Việc quản lý nguồn lực đòi hỏi sự hiểu biết về con người ở nhiều khía cạnh,và quan niệm rằng con người là yếu tố trung tâm của sự phát triển. Các kỹ thuật quản lý nhân lực thường có mục đích tạo điều kiện để con người phát huy hết khả năng tiềm ẩn, giảm lãng phí nguồn lực, tăng hiệu quả của tổ chức. Do có vai trò trọng trách như vậy nên các tổ chức, đơn vị luôn chú trọng đến công tác tổ chức nhân sự. Mục tiêu của quản lý nhân sự nhằm giải quyết ổn thỏa những vấn đề phát sinh liên quan đến con người trong tổ chức.
Quản lý nhân sự được nhìn nhận như một hoạt động riêng biệt trong các hoạt động quản lý của tổ chức, chủ yếu thuộc về trách nhiệm của người làm chuyên môn về quản lý nhân sự 1. Chất lượng nguồn nhân sự Chất lượng nguồn nhân sự là trạng thái nhất định của nguồn nhân sự trong tổ chức, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân sự [3,tr. Chất lượng của nguồn nhân sự được biểu hiện thông qua một số yếu tố chủ yếu như trạng thái sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân sự. Vai trò, ý nghĩavà mục tiêu của nâng cao chất lượng nguồn nhân sự 1.
Vai trò và vị trí của nguồn nhân sự Đối với sự phát triển của đất nước ngày càng cao đòi hỏi phải có nguồn nhân sự không chỉ về chất lượng và số lượng mà còn phải có một cơ cấu đồng bộ, hợp lý, phù hợp với nhu cầu của xã hội. Thứ nhất: xác định được nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm cung cấp đầy đủ nhân lực chất lượng cao theo nhu cầu phát triển của đất nước, của xã hội. 8 Thứ hai: xác định đúng nhu cầu nâng cao nguồn nhân lực nhằm có chính sách đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực phù hợp, tránh lãng phí nguồn lực của cải xã hội. Thứ ba: xác định đúng nhu cầu nâng cao nguồn nhân lực giúp sử dụng đầy đủ, hợp lý nguồn nhân lực đã được đào tạo, tạo điều kiện phân công lao động trong xã hội một cách hợp lý, hạn chế tình trạng thất nghiệp.
Thứ tư: xác định đúng nhu cầu nâng cao nguồn nhân sự nhằm có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với lực lượng lao động có trình độ cao, hạn chế tình trạng chảy máu chất xám.