Chương 1. Những v n đ lý luận và pháp luật v bảo đảm quy n vui chơi, giải trí của trẻ em Chương 2. Thực trạng bảo đảm quy n vui chơi, giải trí của trẻ em và quan điểm, giải pháp thúc đẩy bảo đảm quy n vui chơi, giải trí của trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội 8 e Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN VUI CHƠI, GIẢI TRÍ CỦA TRẺ EM 1. QUAN NIỆM VỀ QUYỀN VUI CHƠI, GIẢI TRÍ CỦA TRẺ EM 1.
Trẻ em Dưới góc độ xã hội học, trẻ em là bộ phận cấu thành của cơ cấu xã hội. Trẻ em là người có vai trò và vị thế khác với người lớn do đó luôn là đối tượng được xã hội quan tâm, bảo vệ, nuôi dưỡng để phát triển thành người lớn. Tùy theo góc độ tiếp cận mà có những định nghĩa khác nhau về trẻ em. Bên cạnh đó quan niệm về trẻ em ở các quốc gia trên thế giới cũng không giống nhau.
Dưới góc độ tâm lý học, xác định trẻ em căn cứ theo độ tuổi và yếu tố tâm lý trong từng giai đoạn phát triển. Đó là các giai đoạn: 0 – 1,5 tuổi, từ 1,5 – 3 tuổi, thừ 3 – 6 tuổi, từ 6 – 12 tuổi, và từ 13 – 18 tuổi. Dựa vào sự phát triển thể chất, trí tuệ và tâm lý để từ đó cha mẹ, nhà trường và xã hội có thể hiểu rõ về trẻ em và các biện pháp giáo dục phù hợp. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm v trẻ em được xác định theo độ tuổi.
Ở các quốc gia khác nhau độ tuổi được xem là trẻ em cũng khác nhau. Theo Đi u 1 Công ước v quy n trẻ em (CRC) 1989 thì: “Trong phạm vi công ước này, trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn’’ [13, Đ. Tại Điều 2 trong Công ước số 182 - Công ước nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, năm 1999 có quy định: “Trong Công ước này, thuật ngữ “trẻ em” sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi” [13, Đ. 9 e Đây là một quy định mở, các quốc gia thành viên có thể lấy mức 18 tuổi làm tiêu chuẩn.
Tuy nhiên, các quốc gia thành viên có thể quy định độ tuổi được cho là trẻ em thấp hơn. Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có các quy định thống nhất về khái niệm trẻ em. Hiện nay trong các quy định pháp luật Việt Nam đang sử dụng hai thuật ngữ: thuật ngữ “trẻ em” là người dưới 16 tuổi và thuật ngữ “người chưa thành niên” để chỉ những người dưới 18 tuổi. Như vậy, khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm trẻ em, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Điều 1 Luật Trẻ em 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Luật Trẻ em 2016 đã đưa ra khái niệm trẻ em với mức 16 tuổi, như vậy là phù hợp và đúng với quy định của CRC và mức 16 tuổi là mức thấp hơn so với mức trần tiêu chuẩn của CRC 1989. Bộ luật Dân sự quy định “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi” [24, Đ.21]; Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác đều xác định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và có chế định pháp luật riêng đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể. Mặc dù có nhiều quan niệm về trẻ em, tuy nhiên có thể đưa ra quan niệm về trẻ em như sau: Trẻ em là bộ phận c u thành của cơ c u xã hội, bao gồm những người dưới 18 tuổi, cần được chăm sóc và ảo vệ đặc biệt.
Theo đó, trẻ em là những người có đầy đủ các dấu hiệu sau đây: Một là, trẻ em là người dưới 18 tuổi; Hai là, trẻ em là người còn non nớt về thể chất và trí tuệ; Ba là, trẻ em cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt (kể cả về mặt pháp lý). Quyền trẻ em Trong tiếng Anh, thuật ngữ quyền được gọi là “Right” có nguồn gốc từ tiếng Latin là RECTUS (có nghĩa là Ruled-quy tắc); còn trong ngữ hệ Ấn-Âu có nghĩa là việc miêu tả sự di chuyển theo một đường thẳng. Điều này cũng có thể hiểu “quyền” ở đây có nghĩa là những chuẩn mực không thể thay thế được. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa, quyền là “đi u mà luật pháp hoặc, xã hội cho phép được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [34, tr.
Như vậy, khái niệm “quyền” chủ yếu liên quan đến việc hành động, cụ thể là tự do hành động. Theo đó, một người được phép làm những việc trong khuôn khổ nhất định mà không bị cưỡng ép, áp đặt, và không ai được vi phạm vào các quyền đó. Việc làm rõ khái niệm quyền là cơ sở để xác định các vấn đề có liên quan dựa trên quyền. Như vậy, hiểu một cách tổng quát: Quy n là những đòi hỏi cơ ản và chính đáng của một con người đáng được hưởng hoặc có thể được làm.
Với thông điệp “Trẻ em hôm nay - Thế giới ngày mai” đã trở thành phương châm hành động của nhân loại tiến bộ. Từ xa xưa, con người đã ý thức được rằng trẻ em cần được bảo vệ, che chở đặc biệt khỏi mọi sự xâm hại bởi chúng còn non nớt về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa xuất phát từ góc độ quyền mà xuất phát từ góc độ nhân đạo. Thuật ngữ pháp lý “quyền trẻ em” xuất hiện từ đầu thế kỷ XX.
Năm 1924, khi Tuyên bố Giơnevơ về Quyền trẻ em được Hội Quốc liên (nay là Liên Hợp quốc) thông qua thì vấn đề bảo vệ “quyền trẻ em” mới chính thức được đề cập. Có thể xem bản Tuyên bố này là sự ghi nhận đầu tiên về các quyền của trẻ em trên bình diện quốc tế [11]. Theo đó, vấn đề quyền trẻ em được liệt kê cụ thể theo 5 nhóm quyền gồm: (1) Trẻ em phải được phát triển một cách ình thường cả v thể ch t và tinh thần; 11 e (2) Trẻ đói phải được cho ăn, trẻ ốm phải được chữa trị, trẻ lạc hậu phải được giúp đỡ, trẻ phạm tội phải được giáo dục, trẻ mồ côi và lang thang phải có nơi trú ẩn và phải được chăm sóc; (3) Khi xảy ra tai họa, trẻ em là người đầu tiên được cứu trợ; (4) Trong đời sống, trẻ em phải có quy n được kiếm sống và phải được ảo vệ chống lại mọi hình thức óc lột; (5) Trẻ em phải được nuôi dưỡng theo nhận thức rằng, tài năng của chúng phải phục vụ cho đồng ào mình. Tuy nhiên, những nội dung cơ bản của Tuyên bố Giơnevơ chưa thực sự nhấn mạnh đến khía cạnh quyền của trẻ em mà mới chỉ dừng lại ở các qui định về nghĩa vụ mà “nam giới và phụ nữ của tất cả các dân tộc” phải có trách nhiệm bảo đảm quyền trẻ em.
Năm 1959, Liên hợp quốc ra Tuyên bố thứ hai về quyền trẻ em. Tuyên bố năm 1959 kế thừa và phát triển nội dung của Tuyên bố Giơnevơ năm 1924 đã khẳng định rằng: “Trẻ em, do chưa trưởng thành v tinh thần và thể lực cần có sự ảo vệ và chăm sóc đặc iệt, ao gồm sự ảo vệ v pháp lý thích hợp, trước cũng như sau khi sinh. Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em những đi u tốt đẹp nh t” [12]. Tuyên bố năm 1959 kêu gọi các bậc cha mẹ, đàn ông và phụ nữ với tư cách là những cá nhân, kêu gọi các tổ chức tình nguyện, giới cầm quyền địa phương và chính phủ các nước công nhận những quyền của trẻ em và phấn đấu để thực hiện bằng luật pháp và những biện pháp khác theo 10 nguyên tắc và những nguyên tắc này như là 10 nhóm quyền cơ bản của trẻ em.
Năm 1989 Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước về quyền trẻ em viết tắt là CRC (Việt Nam đã phê chuẩn Công ước này). Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một văn bản quốc tế đề cập toàn diện về quyền trẻ em theo hướng tiến bộ, bình đẳng, toàn diện và mang tính pháp lý cao, làm cơ sở cho việc thúc đẩy 12 e chăm sóc và bảo vệ các quyền trẻ em trên thực tế. Một tập hợp các quyền trẻ em trên tất cả các lĩnh vực đã được CRC ghi nhận, bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ, chăm sóc một cách có hiệu quả; được phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức và xã hội[13]. Không chỉ đề cập đến quyền trẻ em nói chung, CRC còn đề cập đến việc bảo vệ quyền của những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (gồm: trẻ em khuyết tật, lang thang cơ nhỡ, bị ảnh hưởng của xung đột vũ trang.
Đồng thời, CRC xác định những biện pháp nhằm xóa bỏ những nguy cơ đang đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của nhiều trẻ em như bị lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao động, ảnh hưởng của chất ma túy và bị buộc phải tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang. CRC được coi là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em trong thời điểm hiện nay. Để bổ sung cho CRC, Liên Hợp quốc còn thông qua hai Nghị định thư bổ sung, đề cập đến việc cấm sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và cấm buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em (Việt Nam đã phê chuẩn 2 Nghị định thư này). Đến nay, đã có hơn 80 văn kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ em được ban hành để bảo vệ lợi ích tốt nhất cho trẻ em như: Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên, gọi tắt là Hướng dẫn Riát (1990); Quy tắc của Liên Hợp quốc về Bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990); Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em (1990).