Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển trải dài qua 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cùng mạng lưới 89 cửa sông và hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Trong bối cảnh phát triển kinh tế biển gắn liền với an ninh quốc phòng, hệ thống đê kè ven bờ giữ vai trò sống còn trong việc bảo vệ tính mạng cư dân và cơ sở hạ tầng. Tại tỉnh Quảng Trị, chiều dài bờ biển 75 km cùng hai cửa sông xung yếu là Cửa Việt (sông Thạch Hãn) và Cửa Tùng (sông Bến Hải) thường xuyên đối mặt với chế độ thời tiết khắc nghiệt, bão nhiệt đới và áp thấp nhiệt đới dồn dập.

Thực trạng hệ thống đê kè tại Quảng Trị bộc lộ nhiều điểm yếu mang tính cấu trúc: hơn 48,58 km đê cát và đê phân thủy phần lớn đắp bằng vật liệu địa phương trên nền cát mịn dày từ 3 m đến 5 m. Cao trình đỉnh đê hiện hành còn thiếu từ 0,5 m đến 1,0 m so với yêu cầu phòng chống thiên tai, mặt đê nhỏ hẹp chỉ từ 2,0 m đến 2,5 m. Trận lũ lịch sử năm 1999 và đợt bão lũ kéo dài năm 2010 đã làm xói lở nghiêm trọng kè Cửa Tùng, phá vỡ nhiều đoạn đê xung yếu. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, theo kịch bản phát thải trung bình B2 do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2012, mực nước biển dâng ước tính từ 26 cm đến 29 cm vào giữa thế kỷ 21 và có thể lên tới 100 cm vào cuối thế kỷ 21, kéo theo sự gia tăng áp lực sóng vượt cấp 9.

Nghiên cứu tập trung giải quyết mục tiêu lựa chọn giải pháp mặt cắt và kết cấu đê kè thích ứng với biến đổi khí hậu, áp dụng tính toán thiết kế chi tiết cho công trình kè Bắc Cửa Việt. Đề tài đóng góp cơ sở khoa học trực tiếp nhằm hiện thực hóa Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về củng cố, nâng cấp đê biển, gia tăng mức an toàn kỹ thuật cho toàn bộ dải bờ biển miền Trung.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết thủy động lực học sóng biển, tương tác sóng - công trình và cơ học đất công trình thủy lợi. Ba trụ cột lý thuyết chính bao gồm:

Thứ nhất, lý thuyết truyền sóng và sóng vỡ vùng nước nông theo sổ tay kỹ thuật bảo vệ bờ SPM (Shore Protection Manual) kết hợp tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế đê biển hiện hành. Khi sóng truyền từ vùng nước sâu vào bờ, chiều cao sóng và chu kỳ sóng biến đổi phụ thuộc vào vận tốc gió, đà gió và chiều sâu cột nước. Trọng tâm nghiên cứu áp dụng công thức xác định áp lực sóng xô lên tường chắn sóng và mái dốc, phân tách áp lực tổng cộng thành thành phần áp lực thủy động và áp lực thủy tĩnh.

Thứ hai, khung kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam (kịch bản phát thải trung bình B2). Kịch bản này xác lập mức tăng nhiệt độ trung bình từ 1,4°C đến 1,8°C và mực nước biển dâng từ 24 cm đến 27 cm vào giữa thế kỷ 21 tại dải ven biển Trung Trung Bộ.

Thứ ba, hệ thống khái niệm chuyên ngành về ổn định công trình bảo vệ bờ: ổn định chống trượt mái dốc, ổn định chống lật tường đỉnh, kiểm soát lưu lượng sóng tràn cho phép, và phân loại công trình bảo vệ chủ động (mỏ hàn, đê ngầm giảm sóng, nuôi bãi nhân tạo) kết hợp bảo vệ bị động (đê mái nghiêng, đê tường đứng, đê hỗn hợp). Nghiên cứu tích hợp các giải pháp vật liệu hiện đại như khối phủ tiêu sóng Tetrapod trọng lượng từ 5 tấn đến 7 tấn và tấm bê tông tự khóa ba chiều TSC-178 theo bằng sáng chế số 178/QĐSC.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai phương pháp tiếp cận hệ thống, kết hợp điều tra khảo sát thực địa với phân tích thống kê toán học và giải tích lực công trình:

Về nguồn dữ liệu và chọn mẫu: Thu thập chuỗi số liệu quan trắc khí tượng, thủy hải văn và địa chất công trình giai đoạn 1980 - 1999 và cập nhật đến năm 2012 dọc theo 75 km bờ biển Quảng Trị. Khảo sát chi tiết hiện trạng kỹ thuật trên 7 km đê biển Vĩnh Thái (huyện Vĩnh Linh), 29,65 km hệ thống 3 tuyến đê cát và 18,93 km của 3 tuyến đê phân thủy chạy qua các huyện Gio Linh, Triệu Phong và Hải Lăng.

Về phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê thủy văn xác định tham số sóng thiết kế với tần suất P = 2% và P = 5% trong cả hai trường hợp chưa tính và có tính đến nước biển dâng. Tính toán độ ổn định trượt cung tròn thân đê, ổn định lật của tường đỉnh, ứng suất đáy móng và chiều dày lớp phủ bảo vệ mái theo các công thức giải tích cơ học thủy công. Lý do lựa chọn phương pháp này là đảm bảo độ tin cậy cao theo quy chuẩn thiết kế quốc gia, đồng thời cho phép so sánh tối ưu hóa chi phí kinh tế - kỹ thuật giữa các phương án kết cấu mặt cắt.

Timeline nghiên cứu được triển khai liên tục trong thời gian 2 năm (2011 - 2013) tại Đại học Thủy lợi với sự phối hợp của Ban Quản lý dự án Quản lý thiên tai tỉnh Quảng Trị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm và mô phỏng tính toán đưa ra các phát hiện nổi bật sau:

Thứ nhất, đánh giá định lượng cho thấy 100% các đoạn đê cát tự nhiên tại Quảng Trị có sức chịu tải kém do lớp cát hạt mịn dày 3 m đến 5 m. Khi gặp triều cường kết hợp bão cấp 9 trở lên, sóng tràn qua đỉnh đê gây xói lở mặt trong và phá hỏng kết cấu thân đê chỉ trong vài giờ nếu không có lớp gia cố bảo vệ.

Thứ hai, việc tích hợp kịch bản nước biển dâng 26 cm đến 29 cm làm thay đổi căn bản tham số động lực học sóng tại ven bờ Quảng Trị. Khi tính đến biến đổi khí hậu ở tần suất triều thiết kế P = 2%, chiều cao sóng tính toán tăng từ 15% đến 22%, làm gia tăng lưu lượng sóng tràn qua đỉnh đê lên hơn 40% so với điều kiện tự nhiên cũ. Nếu giữ nguyên cao trình đỉnh đê hiện trạng, nguy cơ vỡ đê và ngập lụt nội đồng tăng gấp 2,5 lần.

Thứ ba, phân tích so sánh các dạng mặt cắt công trình khẳng định kết cấu đê hỗn hợp (kết hợp mái nghiêng tiêu sóng phía dưới và tường đỉnh bê tông cốt thép phía trên) thể hiện tính vượt trội. Mặt cắt này giúp giảm chiều cao sóng leo từ 30% đến 45% so với đê mái nghiêng thuần túy, đồng thời giảm 50% áp lực phản xạ sóng so với đê tường đứng liền bờ.

Thứ tư, kết quả tính toán chi tiết cho công trình kè Bắc Cửa Việt xác lập các thông số tối ưu: bề rộng mặt kè đạt từ 4,0 m đến 6,0 m kết hợp đường giao thông cứu hộ; mái nghiêng phía biển có hệ số m = 2,5 được gia cố bằng cấu kiện bê tông đúc sẵn ngàm ba chiều TSC-178 hoặc khối Tetrapod 5T - 7T; chân khay cắm sâu vượt qua độ sâu hố xói xói lở lý thuyết lớn hơn 1,0 m kết hợp thảm đá hộc phản áp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến các công trình kè biển miền Trung như kè Cửa Tùng và Cửa Việt thường xuyên hư hỏng là do hiện tượng xói sâu chân khay dưới tác động của dòng chảy dọc bờ và áp lực đẩy ngược của nước ngầm trong thân đê khi triều rút. Đê tường đứng tạo ra lưu tốc đáy cực lớn gây xói lở chân móng, trong khi đê mái nghiêng đắp đất đơn thuần lại chiếm dụng diện tích mặt bằng quá lớn và dễ bị xói trôi vật liệu hạt mịn.

Khi so sánh với các nghiên cứu và thực tiễn đê biển tại Hà Lan (sử dụng cỏ Vetiver bảo vệ mái phía đồng theo tài liệu TAW 1998) hoặc công trình ổn định cửa sông Dinh (Bình Thuận), giải pháp đê hỗn hợp có tường chắn sóng đỉnh cao dưới 1,0 m bố trí khe biến dạng từ 10 m đến 20 m là hoàn toàn phù hợp với điều kiện địa chất miền Trung.

Dữ liệu tính toán trong luận văn được hệ thống hóa qua bảng tham số sóng thiết kế tương ứng với các phân đoạn bờ biển tại Quảng Trị và biểu đồ phân tích áp lực sóng xô lên tường đứng khi sóng rút. Đồ thị phản áp lực sóng chứng minh rằng việc bố trí tầng lọc vải địa kỹ thuật kết hợp lớp lót đá dăm giúp triệt tiêu hoàn toàn áp lực đẩy ngược, tăng hệ số an toàn chống trượt của mái kè lên hơn 35%.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học, 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý công trình được đề xuất cụ thể:

  1. Nâng cấp toàn diện cao trình và mặt cắt 48,58 km hệ thống đê cát và đê phân thủy ven biển Quảng Trị. Mở rộng bề rộng đỉnh đê lên 4,0 m đến 6,0 m (đáp ứng tiêu chuẩn công trình cấp II và cấp III), xây dựng tường chắn sóng đỉnh đê bằng bê tông cốt thép cao từ 0,6 m đến 1,0 m để ứng phó an toàn với kịch bản nước biển dâng 26 cm đến 29 cm. Mục tiêu hoàn thành cứng hóa 100% các đoạn xung yếu trước năm 2025.

  2. Ứng dụng công nghệ cấu kiện lắp ghép tự chèn ngàm ba chiều TSC-178 và khối phá sóng Tetrapod 5 tấn đến 7 tấn cho toàn bộ mái kè phía biển tại khu vực Bắc Cửa Việt và Cửa Tùng. Gia cố chân khay cắm sâu hơn 1,0 m vào tầng địa chất ổn định nhằm giảm 50% nguy cơ xói chân do dòng bùn cát dọc bờ. Thời gian triển khai thiết kế chi tiết trong giai đoạn 2024 - 2026 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị chủ trì.

  3. Xây dựng dải bảo vệ chủ động tích hợp bên ngoài bờ kè bằng cách bố trí hệ thống mỏ hàn cản cát kết hợp đê ngầm giảm sóng tại các vị trí cửa sông. Kết hợp trồng cây ngập mặn chắn sóng phía ngoài bãi và trồng cỏ Vetiver chống xói mòn mái đê phía đồng theo tiêu chuẩn quốc tế TAW, giúp tiêu tán từ 40% đến 50% năng lượng sóng trước khi tác động vào thân kè.

  4. Ban Quản lý dự án Quản lý thiên tai tỉnh Quảng Trị cần thiết lập hệ thống quan trắc địa kỹ thuật và biến động đường bờ định kỳ 6 tháng một lần. Tích hợp bản đồ nguy cơ ngập lụt ứng với kịch bản nước biển dâng 1,0 m vào quy hoạch tổng thể không gian kinh tế biển của tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang tính ứng dụng kỹ thuật cao, là tài liệu chuyên khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy lợi, cảng và công trình biển: Tài liệu cung cấp phương pháp tính toán chi tiết về tải trọng sóng xô, áp lực thủy động, mômen lật tường đỉnh và công thức xác định kích thước chân khay thích ứng với nước biển dâng.

Thứ hai, cán bộ quản lý đê điều và phòng chống thiên tai tại các tỉnh duyên hải miền Trung: Cung cấp góc nhìn toàn diện để đánh giá hiện trạng xói lở, lựa chọn thứ tự ưu tiên đầu tư nâng cấp đê kè theo Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Kỹ thuật Công trình Thủy, Quản lý Bờ biển và Biến đổi khí hậu: Sử dụng như một case study điển hình về việc ứng dụng kịch bản biến đổi khí hậu vào tính toán thiết kế công trình hạ tầng ven bờ.

Thứ tư, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý tài nguyên môi trường: Cung cấp cơ sở khoa học xác thực để lập quy hoạch phát triển dải ven biển, cân bằng giữa bài toán đầu tư công trình bảo vệ bờ và bảo tồn cảnh quan du lịch sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao hệ thống đê kè ven biển tỉnh Quảng Trị thường xuyên bị hư hỏng nghiêm trọng sau bão lũ?
Do địa chất nền chủ yếu là cát hạt mịn dày 3 m đến 5 m có sức chịu tải kém và dễ xói ngầm. Phần lớn các tuyến đê có mặt cắt nhỏ, đắp bằng vật liệu địa phương, thiếu cao trình thiết kế từ 0,5 m đến 1,0 m nên dễ bị sóng tràn gây sạt lở như sự cố kè Cửa Tùng năm 2010.

Kịch bản biến đổi khí hậu B2 ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn kích thước mặt cắt đê?
Theo kịch bản B2 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mực nước biển dâng từ 26 cm đến 29 cm vào giữa thế kỷ 21 làm tăng chiều cao sóng tính toán thêm 15% đến 22%. Điều này đòi hỏi phải tôn cao đỉnh đê hoặc xây tường chắn sóng đỉnh cao đến 1,0 m để ngăn sóng tràn vượt mức cho phép.

Kết cấu đê biển dạng hỗn hợp có ưu điểm gì vượt trội so với đê mái nghiêng truyền thống?
Đê hỗn hợp kết hợp mái nghiêng tiêu năng phía dưới và tường đứng phía trên giúp giảm 30% đến 45% chiều cao sóng leo, tiết kiệm đáng kể diện tích chiếm đất và khối lượng vật liệu đắp. Đồng thời kết cấu này giảm thiểu hiện tượng xói chân đê so với phương án tường đứng độc lập.

Vai trò của cấu kiện bê tông ngàm ba chiều TSC-178 trong công trình kè bảo vệ bờ là gì?
Khối bê tông đúc sẵn TSC-178 có khả năng tự chèn đa chiều linh hoạt, thích ứng tối ưu với hiện tượng lún biến dạng của thân đê cát. Cấu kiện tạo độ nhám cao giúp tiêu hao 45% đến 55% năng lượng sóng xô, thi công nhanh chóng và dễ dàng thay thế khi xuất hiện hư hỏng cục bộ.

Làm thế nào để xử lý triệt để nguy cơ xói lở chân kè tại các vùng bờ biển chịu sóng lớn?
Cần thiết kế chân khay sâu cắm qua tầng cát bở rời với chiều sâu cắm đất không nhỏ hơn 1,0 m bằng cọc hoặc ống bê tông cốt thép. Phía trước chân khay phải bố trí lăng thể đá hộc thả rối hoặc rọ đá lưới thép dày 30 cm đến 2,0 m nhằm tiêu tán dòng xoáy chân kè.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết trọn vẹn bài toán khoa học và thực tiễn về công trình bảo vệ bờ thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua 5 kết quả then chốt:

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng kỹ thuật của hơn 75 km bờ biển và 48,58 km hệ thống đê cát, đê phân thủy tại tỉnh Quảng Trị.
  • Xác lập phương pháp tính toán tải trọng sóng xô và sóng tràn tích hợp kịch bản nước biển dâng 26 cm đến 29 cm theo chuẩn phát thải B2.
  • Đề xuất mô hình mặt cắt đê hỗn hợp tối ưu kết hợp tường đỉnh bê tông và mái lát cấu kiện ngàm ba chiều TSC-178.
  • Hoàn thiện hồ sơ tính toán kỹ thuật ứng dụng điển hình cho công trình kè Bắc Cửa Việt với độ an toàn cao về ổn định trượt lật.
  • Định hình giải pháp tổng thể kết hợp công trình bảo vệ chủ động ngoài bãi, sinh thái cây chắn sóng và đê biển đa mục tiêu.

Trong giai đoạn 2025 - 2030, việc mở rộng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào các dự án nâng cấp đê biển quốc gia là bước đi cấp thiết. Các đơn vị quản lý cần sớm áp dụng khung tính toán này nhằm bảo vệ vững chắc dải bờ biển miền Trung trước thách thức toàn cầu của biến đổi khí hậu.