Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại Trung tâm Dịch vụ thương mại hàng không Nội Bài Chương 3: Giải pháp tạo động lực lao động tại Trung tâm Dịch vụ thương mại hàng không Nội Bài. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm và vai trò tạo động lực lao động 1. Một số khái niệm 1.
Nhu cầu, động cơ “Nhu cầu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần vì vậy việc thoả mãn nhu cầu trở nên cấp thiết” [7 – tr. Nhu cầu bao gồm nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần có quan hệ biện chứng cho nhau: Nhu cầu vật chất là đòi hỏi những điều kiện vật chất cho con người tồn tại và phát triển thể lực. Đây là nhu cầu để đảm bảo một cuộc sống cho con người, có như thế thì con người mới có thể tồn tại được Nhu cầu tinh thần đòi hỏi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Với nhu cầu này để đảm bảo cho sự phát triển về mặt chất của con người, con người có thể tăng sự tư duy của mình, phát triển trí tuệ để có thể làm việc trong môi trường xã hội hiện nay “Động cơ là mục đích chủ quan trong hoạt động của con người thúc đẩy con người hoạt động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu đặt ra”.3] Động cơ gắn liền mật thiết với nhu cầu của con người, động cơ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động của NLĐ.
Có hai loại động cơ: động cơ cảm tính và động cơ lý tính. Động lực, động lực lao động “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức”.96] “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.128] 7 Như vậy, động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. “Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người trong môi trường sống và làm việc của con người. Do đó hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa của tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực cũng như sự thực hiện chính sách đó”.
Do đó, người quản lý phải nắm rõ được tính cách, nhu cầu, các đặc điểm cá nhân của người lao động và các đặc điểm về môi trường trong, ngoài tổ chức để đưa ra các biện pháp nhằm tạo động lực lao động phù hợp và hiệu quả. Tạo động lực lao động “Người lao động có động lực làm việc sẽ tự giác dồn hết khả năng để thực hiện công việc được giao cho hiệu quả, góp phần giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh. Thực tế lợi ích có quan hệ chặt chẽ với động lực làm việc, nhưng lợi ích của cá nhân với lợi ích của tập thể lại luôn mâu thuẫn. Để người lao động có thể tự nguyện theo các định hướng của doanh nghiệp thì cần cho họ thấy rõ lợi ích của bản thân họ, chỉ đạt được khi lợi ích của doanh nghiêp đạt được tức phải hướng mục tiêu của cá nhân theo mục tiêu của tổ chức.
Làm được điều đó chính là tạo động lực làm việc cho người lao động, và đó chính là khả năng tiềm tàng để tăng năng suất và hiệu quả của danh nghiêp”. “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc”. Xét theo giác độ nhu cầu, quá trình tạo động lực cho người lao động sẽ diễn ra theo như sau: Nhu cầu không được thỏa mãn Sự căng thẳng Các động cơ Hành vi tìm kiếm Nhu cầu được thỏa mãn Giảm căng thẳng. 8 Như vậy, tạo động lực lao động chính là sử dụng những biện pháp khuyến khích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được nhu cầu, mục tiêu của mình.
“Tạo động lực lao động vừa là trách nhiệm, vừa là mục tiêu của nhà quản lý.Để có thể tạo động lực lao động, nhà quản lý cần hiểu, thúc đẩy động cơ làm việc của NLĐ để tạo động lực. Khi NLĐ có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng tiềm ẩn để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác”. Vai trò của tạo động lực lao động Đối với người lao động: Thúc đẩy người lao động làm việc hăng say, đạt hiệu quả làm việc tốt nhất và chất lượng cao nhất, khơi dậy tinh thần học tập, nâng cao kiến thức kinh nghiệm làm việc. Ngoài ra, giúp NLĐ có tinh thần làm việc thoải mái, phát huy tính sáng tạo, giúp họ hiểu rõ và yêu thích công việc, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp: Nguồn nhân lực trong tổ chức sẽ được sử dụng hiệu quả nhất và có thể khai thác tối ưu các khả năng của người lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hình thành nên tài sản quý giá của tổ chức đó là đội ngũ lao động giỏi, có tâm huyết, gắn bó với tổ chức đồng thời thu hút được nhiều người tài về làm việc cho tổ chức. Tạo ra bầu không khí làm việc hăng say, thoải mái, góp phần xây dựng văn hoá doanh nghiệp, nâng cao uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp. Các học thuyết về tạo động lực lao động Có rất nhiều học thuyết về tạo động lực lao động, luận văn chỉ đưa ra ba học thuyết đều có điểm chung là tạo động lực lao động theo hai hướng: khuyến khích tài chính và phi tài chính.
Học thuyết nhu cầu của Maslow Ông đặt ra giả thuyết trong mọi con người đều tồn tại nhu cầu 5 thứ bậc sau: - Nhu cầu sinh lý: bao gồm những đòi hỏi về ăn, uống, mặc, ở, đi lại. và các nhu cầu sinh lý khác. - Nhu cầu an toàn: bao gồm an ninh và bảo vệ khỏi những nguy hại về thể chất và tình cảm. 9 - Nhu cầu xã hội: bao gồm tình thương, cảm giác trực thuộc, được chấp nhận và tình bạn.
- Nhu cầu được tôn trọng: bao gồm các yếu tố bên trong như tự trọng, tự chủ và thành tích và các yếu tố bên ngoài như địa vị, được công nhận và được chú ý. - Nhu cầu tự hoàn thiện: động cơ đạt được trở thành những gì mà ta có khả năng và mong muốn; bao gồm sự tiến bộ, phát triển tiêm năng của mình và tự chủ trong công việc.1: Tháp nhu cầu của Maslow “Maslow cho rằng mỗi người có nhu cầu khác nhau và cần được thỏa mãn bằng các cách khác nhau. Khi nhu cầu ở bậc thấp được thỏa mãn thì một nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ thành lực thúc đẩy con người thực hiện những việc làm nào đó để thỏa mãn chúng. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho rằng, thứ bậc nhu cầu không chỉ khác nhau theo cá nhân mà còn khác nhau theo một khía cạnh khác.
Nhóm nhu cầu ở bậc cao quan trọng hơn nhóm nhu cầu bậc thấp do cá nhân phấn đấu để đạt được địa vị cao hơn trong nấc thang quản lý. Nhu cầu cá nhân còn khác nhau theo các giai đoạn nghề nghiệp, quy mô tổ chức, khu vực địa lý của doanh nghiệp, văn hóa của mỗi nước. Theo Maslow, khi xây dựng và thực hiện các chính sách nhân sự nhằm tạo động lực làm việc cho người lao động, người quản lý cần phải tìm hiểu rõ 10 người lao động đang có nhu cầu gì để hướng vào thỏa mãn các nhu cầu đó nhằm thúc đẩy người lao động làm việc hết khả năng của mình”. Học thuyết về sự kỳ vọng Victor H.
Vroom Victor Vroom đã nghiên cứu ra lý thuyết kỳ vọng vào năm 1964, sau đó được sửa đổi bổ sung bởi một số học giả khác, bao gồm cả Porter và Law. “Về căn bản, học thuyết kỳ vọng cho rằng cường độ của xu hướng hành động theo một cách nào đó phụ thuộc vào mức độ kỳ vọng rằng hành động đó sẽ đem đến một kết quả nhất định và tính hấp dẫn của kết quả đó đối với cá nhân. Lý thuyết này gồm ba biến số sau: - Tính hấp dẫn: Tầm quan trọng mà cá nhân đặt vào kết quả hay phần thưởng tiềm tàng có thể đạt được trong công việc. Biến số này xem xét các nhu cầu không được thỏa mãn của cá nhân.
- Mối liên hệ giữa cá nhân và phần thưởng: Mức độ cá nhân tin rằng mức độ nỗ lực khi thực hiện công việc sẽ dẫn tới việc thu được một kết quả mong muốn. - Mối liên hệ giữa nỗ lực và kết quả: Khả năng một cá nhân nhận thức được một sự nỗ lực nhất định sẽ đem lại kết quả cao hơn”.107,108] Nỗ lực cá Kết quả cá Phần thưởng Mục tiêu nhân nhân tổ chức cá nhân Sơ đồ 1.2: Mô hình kỳ vọng đơn giản hoá “Xét trên giác ngộ hành vi, lý thuyết kỳ vọng đã nêu một số vấn đề cần lưu ý trong tạo động lực cho người lao động. Thứ nhất, lý thuyết hành vi nhấn mạnh đến sự trả công, đến các phần thưởng. Vì vậy, phần thưởng mà tổ chức đưa ra phải có mối quan hệ chặt chẽ với những gì mà nhân viên mong muốn nên nhà quản lý cần phải quan tâm đến tính hấp dẫn của các phần thưởng và thưởng cho cá nhân những thứ mà họ coi trọng.
Thứ hai, lý thuyết kỳ vọng nhấn mạnh hành vi được kỳ vọng. Các nhà quản lý cần phải để cho người lao động biết được tổ chức kỳ vọng những hành vi nào ở họ và hành vi đó được đánh giá ra sao. Cuối cùng, lý thuyết này quan 11 tâm đến những kỳ vọng của cá nhân, về kết quả làm việc, về phần thưởng. Đây là các nhân tố quyết định mức độ nỗ lực của người lao động”.
Học thuyết công bằng J. Stacy Adams đề cập tới vấn đề nhận thức của người lao động về mức độ được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức.