Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro và khả năng sinh lời NHTM

Luận văn thạc sĩ phân tích tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2019

142
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Tóm tắt luận văn thạc sỹ

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.5.1. Dữ liệu nghiên cứu

1.5.2. Phương pháp nghiên cứu

1.5.3. Quy trình nghiên cứu

1.6. Bố cục của đề tài

1.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. Cơ sở lý thuyết về thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại

2.1.1. Thu nhập của ngân hàng thương mại

2.1.2. Lợi ích của thu nhập ngoài lãi mang lại cho ngân hàng thương mại

2.2. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại

2.2.1. Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại

2.2.2. Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

2.3. Cơ sở lý thuyết về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.3.1. Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.3.2. Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.4. Cơ sở lý thuyết về tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.4.1. Cơ sở lý thuyết về tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

2.4.2. Cơ sở lý thuyết về tác động của thu nhập ngoài lãi khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.5. Tổng quan các nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.5.1. Các nghiên cứu trên thế giới

2.5.2. Các nghiên cứu trong nước

2.6. Bài học rút ra từ các công trình nghiên cứu trước đây về tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

2.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

3.1. Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

3.2. Mô hình nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

3.2.1. Mô hình nghiên cứu

3.2.2. Thực nghiệm nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại và giả thuyết nghiên cứu

3.3. Mô hình nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

3.3.1. Mô hình nghiên cứu

3.3.2. Thực nghiệm nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại và giả thuyết nghiên cứu

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN TÁC ĐỘNG THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

4.1. Phân tích mô tả nghiên cứu tác động thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.1.1. Thống kê mô tả dữ liệu mô hình nghiên cứu tác động thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.1.2. Thống kê mô tả dữ liệu mô hình nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.2. Phân tích tác động thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.2.1. Lựa chọn giữa các mô hình POOLED OLS, FEM và REM về nghiên cứu tác động thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.2.2. Kiểm định các giả thuyết hồi quy của mô hình nghiên cứu tác động thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.2.3. Tổng hợp kết quả kiểm định và lựa chọn mô hình nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.2.4. Khắc phục khuyết tật của mô hình và kiểm định kết quả hồi quy nghiên cứu tác động thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.3. Phân tích tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời ROA của các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.3.1. Lựa chọn giữa các mô hình POOLED OLS, FEM và REM về tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời ROA các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.3.2. Kiểm định các giả thuyết hồi quy của mô hình nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi tới khả năng sinh lời ROA các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.3.3. Tổng hợp kết quả kiểm định và lựa chọn mô hình tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời ROA các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.3.4. Khắc phục khuyết tật của mô hình và kiểm định kết quả hồi quy nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời ROA các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.4. Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời ROE các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.4.1. Lựa chọn giữa các mô hình POOLED OLS, FEM và REM về tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời ROE các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.4.2. Kiểm định các giả thuyết hồi quy của mô hình nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi tới khả năng sinh lời ROE các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.4.3. Tổng hợp kết quả kiểm định và lựa chọn mô hình tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời ROE các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.4.4. Khắc phục khuyết tật của mô hình và kiểm định kết quả hồi quy nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời ROE các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.5. Đánh giá tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.5.1. Đánh giá tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.5.2. Đánh giá tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

4.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN TÁC ĐỘNG THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM, HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

5.1. Tóm tắt các kết quả chính của tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

5.2. Hàm ý chính sách

5.3. Hạn chế của nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam

5.3.1. Về dữ liệu, cách sử dụng biến trong mô hình

5.3.2. Về phương pháp tiếp cận và mô hình nghiên cứu

5.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thu Nhập Ngoài Lãi Xu Hướng Chiến Lược Thay Đổi Của NHTM VN

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng cùng những thách thức từ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2010, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt. Tăng trưởng tín dụng chậm lại do giới hạn room tín dụng từ Ngân hàng Nhà nước và yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo Basel II đã thúc đẩy các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) phải tìm kiếm những hướng đi mới. Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 đã nhấn mạnh việc "Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng" (Quyết định số 254/QĐ-TTg, 2012). Đây là minh chứng cho sự nhận thức về tầm quan trọng của việc đa dạng hóa thu nhập, đặc biệt là từ các hoạt động phi tín dụng.

Thu nhập ngoài lãi đã trở thành một yếu tố then chốt, ngày càng chiếm tỷ trọng thu nhập ngoài lãi cao trong cơ cấu thu nhập ngân hàng. Trên thế giới, giá trị trung bình của thu nhập ngoài lãi trên tổng doanh thu ngân hàng của 178 quốc gia giai đoạn 2008–2014 đều trên 37%, với Hoa Kỳ là 36,57% và Anh là 44% (The Global Economy, 2014, dẫn theo Nguyễn Kim Tuyến, 2019). Tại Việt Nam, dù thu nhập ngoài lãi mới chỉ đóng góp dưới 25% tổng thu nhập hoạt động, nhưng đã cho thấy dấu hiệu khởi sắc với mức tăng trưởng từ 18% (2015) lên 23% (2017).

Sự phát triển của thu nhập ngoài lãi không chỉ giúp các ngân hàng giảm thiểu rủi ro tín dụng, vốn là nguồn thu nhập chính nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất, mà còn tạo ra nguồn thu nhập bền vững. Việc mở rộng các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng như phí dịch vụ ngân hàng, kinh doanh ngoại hối ngân hàng, đầu tư chứng khoán ngân hàng, bảo hiểm ngân hàng, tư vấn tài chínhquản lý tài sản không chỉ giúp các NHTM Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh, thu hút và mở rộng khách hàng tiềm năng, mà còn phân tán rủi ro và góp phần vào tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng. Việc phân tích sâu rộng tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro & lợi nhuận NHTM VN là vô cùng cần thiết để định hình chiến lược phát triển trong tương lai.

1.1. Cơ cấu thu nhập ngân hàng Việt Nam Chuyển dịch chiến lược và cơ hội mới

Các ngân hàng thương mại truyền thống thường phụ thuộc lớn vào thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế hiện đại đòi hỏi sự thay đổi trong cơ cấu thu nhập ngân hàng. Thu nhập ngoài lãi được định hình từ các hoạt động phi tín dụng, bao gồm phí dịch vụ ngân hàng, thu từ hoạt động khác của ngân hàng, kinh doanh ngoại hối, đầu tư chứng khoán, và các hoạt động khác. Sự chuyển dịch này giúp các NHTM giảm sự phụ thuộc vào thu nhập lãi, vốn chịu ảnh hưởng mạnh bởi chính sách tiền tệ và các yếu tố rủi ro tín dụng. Các ngân hàng đang nỗ lực mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính để cạnh tranh trên thị trường rộng hơn, gia tăng doanh thu ngân hànglợi nhuận trước thuế. Theo Nguyễn Kim Tuyến (2019), các NHTM Việt Nam ngày càng tập trung nguồn lực vào các hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi trong bối cảnh hoạt động tín dụng có nhiều rủi ro và nguồn thu chưa thật sự ổn định.

1.2. Định nghĩa và vai trò then chốt của thu nhập ngoài lãi cho NHTM Việt Nam

Thu nhập ngoài lãi là nguồn thu của ngân hàng thương mại đến từ các hoạt động ngoài cho vay, gửi tiền. Theo Hoàng Ngọc Tiến và cộng sự (2010), đây là "khoản thu nhập của NHTM được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư và chi phí hoạt động ngân hàng bỏ ra". Các hoạt động này bao gồm đầu tư chứng khoán ngân hàng, kinh doanh ngoại hối ngân hàng, bảo hiểm ngân hàng, tư vấn tài chính, quản lý tài sản và các khoản phí dịch vụ khác. Vai trò của thu nhập ngoài lãi là rất lớn, giúp NHTM đa dạng hóa nguồn thu, tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực để giảm chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận sau thuế, đồng thời phân tán và giảm bớt rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Một tỷ lệ thu nhập ngoài lãi lớn hơn thể hiện mức độ đa dạng hóa sản phẩm dịch vụhiệu quả hoạt động ngân hàng.

II. Tác Động Kép Của Thu Nhập Ngoài Lãi Rủi Ro Tín Dụng Rủi Ro Hoạt Động

Việc mở rộng hoạt động phi tín dụng để tăng thu nhập ngoài lãi mang lại tiềm năng lợi nhuận cao hơn, nhưng cũng đồng thời đặt ra những thách thức đáng kể về rủi ro cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã đưa ra những kết luận trái chiều về mối quan hệ này. Một số cho rằng đa dạng hóa thu nhập có thể cải thiện chất lượng tài sản và giảm rủi ro tín dụng, trong khi những nghiên cứu khác lại cảnh báo rằng nó có thể làm tăng rủi ro. Theo Nguyễn Kim Tuyến (2019), nghiên cứu đã chỉ ra rằng "thu nhập ngoài lãi có tác động cùng chiều đến chất lượng tài sản hay đa dạng hóa làm tăng rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại". Điều này ngụ ý rằng, mặc dù tìm kiếm lợi nhuận từ các kênh mới là cần thiết, các ngân hàng phải đặc biệt chú trọng đến quản trị rủi ro ngân hàng đi kèm.

Sự gia tăng các hoạt động phi tín dụng có thể dẫn đến việc ngân hàng mất tập trung vào nghiệp vụ cho vay truyền thống, hoặc thậm chí khuyến khích các chính sách cho vay kém chặt chẽ hơn để tăng cường bán chéo các sản phẩm tài chính khác. Điều này tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm chất lượng tài sản và gia tăng nợ xấu ngân hàng. Ngoài rủi ro tín dụng, các hoạt động mới còn giới thiệu các loại rủi ro hoạt độngrủi ro thị trường khác. Ví dụ, hoạt động kinh doanh ngoại hối ngân hàngđầu tư chứng khoán ngân hàng có thể mang lại lợi nhuận lớn nhưng cũng rất nhạy cảm với biến động thị trường. Để đảm bảo sự ổn định và bền vững lợi nhuận, các NHTM phải xây dựng các khung quản trị rủi ro toàn diện, bao gồm cả việc đánh giá và kiểm soát các rủi ro phát sinh từ thu nhập ngoài lãi. Sự phát triển của thu nhập ngoài lãi cần đi đôi với sự nâng cao năng lực giám sát và kiểm soát rủi ro để không làm tổn hại đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng.

2.1. Phân tích chiều hướng tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng

Có hai luồng ý kiến chính về mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãirủi ro tín dụng. Một số nghiên cứu, như của Abedifar (2015) trên các ngân hàng thương mại lớn ở Hoa Kỳ, cho rằng thu nhập ngoài lãi cao hơn từ các hoạt động phi truyền thống có thể làm giảm rủi ro tín dụng do khả năng thu thập thông tin khách hàng và mở rộng mối quan hệ. Ngược lại, nhiều nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng đa dạng hóa hoạt động ngân hàng có thể làm tăng rủi ro tín dụng. Các lập luận bao gồm việc ngân hàng có thể chấp nhận các khoản vay rủi ro hơn để thúc đẩy bán chéo các sản phẩm khác, hoặc mất tập trung vào quy trình thẩm định cho vay truyền thống (Carbo và Rodriguez, 2007; Lepetit, 2008). Ngoài ra, sự thiếu kinh nghiệm trong quản trị rủi ro các hoạt động mới cũng có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng (Chaibi và Ftiti, 2015, dẫn theo Nguyễn Kim Tuyến, 2019). Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ tác động phức tạp này trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam.

2.2. Rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường khi đa dạng hóa nguồn thu nhập

Ngoài rủi ro tín dụng, việc gia tăng thu nhập ngoài lãi thông qua đa dạng hóa thu nhập cũng mở ra các loại rủi ro mới như rủi ro hoạt độngrủi ro thị trường. Các hoạt động phi tín dụng như kinh doanh ngoại hối ngân hàng hay đầu tư chứng khoán ngân hàng thường yêu cầu chuyên môn cao và nhạy cảm với biến động của thị trường tài chính. Theo De Jonghe (2010), "Việc chuyển sang các hoạt động ngân hàng phi truyền thống, tạo ra hoa hồng, giao dịch và thu nhập ngoài lãi khác, làm tăng rủi ro của ngân hàng và do đó làm giảm sự ổn định của hệ thống ngân hàng". Việc này đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải đầu tư vào công nghệ, quy trình và nguồn nhân lực có kinh nghiệm để kiểm soát hiệu quả những rủi ro này, đảm bảo rằng việc tìm kiếm lợi nhuận không làm suy yếu nền tảng tài chính của ngân hàng.

2.3. Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng hiệu quả cho ngân hàng thương mại

Để đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại, các nhà nghiên cứu và quản lý thường sử dụng hai chỉ số chính: tỷ lệ nợ xấu (NPL – Non-Performing Loan) và dự phòng rủi ro tín dụng (LLP – Loan Loss Provision). NPL là tỷ lệ của tổng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, phản ánh trực tiếp chất lượng danh mục cho vay. Tuy nhiên, Nguyễn Kim Tuyến (2019) cho rằng, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam, thông tin về nợ xấu ngân hàng thường không được công bố công khai và đầy đủ. Do đó, chỉ số LLP, là tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng tài sản, thường được coi là thước đo phù hợp hơn. LLP "nắm bắt được kỳ vọng của nhà quản trị ngân hàng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng" (Tobias Olweny và Themba, 2011, dẫn theo Tuyến, 2019), đồng thời thông tin này dễ dàng thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán. Các yếu tố khác như tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR), tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LOATA), hệ số thanh toán nợ (ETA), quy mô ngân hàng (SIZE) và suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cũng được tích hợp vào các mô hình để đánh giá toàn diện rủi ro tín dụng.

III. Bí Quyết Tăng Lợi Nhuận Thu Nhập Ngoài Lãi Tối Ưu Hiệu Quả NHTM VN

Khả năng sinh lời luôn là mục tiêu hàng đầu của mọi tổ chức kinh doanh, và đối với ngân hàng thương mại, điều này không ngoại lệ. Trong bối cảnh thu nhập lãi truyền thống ngày càng chịu áp lực cạnh tranh và quy định chặt chẽ, việc tối ưu hóa thu nhập ngoài lãi đã trở thành "bí quyết" quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng. Nghiên cứu của Nguyễn Kim Tuyến (2019) đã khẳng định rằng "thu nhập ngoài lãi có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại", đồng thời "minh chứng cho tầm quan trọng của nguồn thu từ các hoạt động ngoài lãi đến lợi nhuận hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam".

Đa dạng hóa thu nhập thông qua các hoạt động phi tín dụng không chỉ giúp ngân hàng ổn định nguồn thu mà còn mở ra cơ hội khai thác các phân khúc thị trường mới, cung cấp các sản phẩm dịch vụ gia tăng giá trị. Các kênh như phí dịch vụ ngân hàng (thanh toán, chuyển tiền, thẻ), kinh doanh ngoại hối ngân hàng, đầu tư chứng khoán ngân hàng, và bảo hiểm ngân hàng (bancassurance) đang đóng góp ngày càng lớn vào doanh thu ngân hàng. Điều này giúp cải thiện các chỉ số tài chính ngân hàng quan trọng như ROA ngân hàngROE ngân hàng, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản có sinh lời và vốn chủ sở hữu. Để đạt được bền vững lợi nhuận, các NHTM VN cần xây dựng chiến lược phát triển thu nhập ngoài lãi rõ ràng, đầu tư vào công nghệ, phát triển sản phẩm sáng tạo và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Việc này không chỉ giúp tăng lợi nhuận trước thuếlợi nhuận sau thuế mà còn củng cố vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.

3.1. Tác động của thu nhập ngoài lãi đến ROA và ROE ngân hàng Phân tích chuyên sâu

Thu nhập ngoài lãi có ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ số khả năng sinh lời cốt lõi của ngân hàng như ROA ngân hàng (Return on Assets) và ROE ngân hàng (Return on Equity). ROA đo lường lợi nhuận ròng trên tổng tài sản có sinh lời, trong khi ROE phản ánh lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu. Khi thu nhập ngoài lãi tăng lên, nó trực tiếp làm tăng tổng doanh thu ngân hàng, và nếu chi phí hoạt động ngân hàng được quản lý hiệu quả, sẽ dẫn đến lợi nhuận sau thuế cao hơn. Điều này trực tiếp cải thiện cả ROAROE. Theo mô hình DuPont, ROA phụ thuộc vào biên lợi nhuận ròng (ROS) và vòng quay tổng tài sản. Việc tăng thu nhập ngoài lãi có thể cải thiện biên lợi nhuận ròng bằng cách tạo ra các nguồn thu có chi phí hoạt động biên thấp hơn hoặc có tỷ suất sinh lời cao hơn so với thu nhập lãi truyền thống, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàngkhả năng sinh lời tổng thể (Phan Đức Dũng, 2008, dẫn theo Tuyến, 2019).

3.2. Đa dạng hóa thu nhập và chiến lược bền vững lợi nhuận cho NHTM

Đa dạng hóa thu nhập là một chiến lược quan trọng để đạt được bền vững lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại. Việc giảm bớt sự phụ thuộc vào thu nhập lãi giúp các ngân hàng ít bị ảnh hưởng bởi những biến động của lãi suấtchất lượng tín dụng. Thay vào đó, việc phát triển thu nhập ngoài lãi từ các hoạt động phi tín dụng như phí dịch vụ ngân hàng, kinh doanh ngoại hối, đầu tư chứng khoán, bảo hiểm ngân hàng (bancassurance) mang lại nguồn thu ổn định và ít rủi ro hơn trong dài hạn. Như đã nêu trong tài liệu gốc, các chuyên gia tài chính "nhận định rằng các dịch vụ phi tín dụng truyền thống sẽ là “mỏ vàng” mới tạo ra thu nhập bền vững cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, từ đó thu hút và mở rộng khách hàng tiềm năng, đồng thời phân tán rủi ro, tăng lợi nhuận và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng" (Nguyễn Kim Tuyến, 2019). Chiến lược này không chỉ tăng cường tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng mà còn củng cố nền tảng tài chính, giúp ngân hàng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc kinh tế.

3.3. Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời và phân tích tài chính ngân hàng

Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại được đo lường thông qua nhiều chỉ số tài chính ngân hàng khác nhau, với ROA ngân hàngROE ngân hàng là hai chỉ số quan trọng nhất. ROA đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản trong việc tạo ra lợi nhuận, trong khi ROE đo lường hiệu quả của vốn chủ sở hữu. Ngoài ra, các chỉ số như lợi nhuận trên doanh thu (ROS) và lợi nhuận biên ròng cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả hoạt động ngân hàng và khả năng quản lý chi phí hoạt động ngân hàng. Việc phân tích tài chính ngân hàng không chỉ dừng lại ở tổng lợi nhuận mà còn xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận với quy mô vốn, tài sản và nguồn lực kinh tế (Nguyễn Văn Ngọc, 2012, dẫn theo Tuyến, 2019). Bằng cách theo dõi các chỉ số tài chính này, các nhà quản lý có thể đưa ra quyết định kinh doanh sáng suốt, tối ưu hóa các tài sản có sinh lời và kiểm soát chi phí ngân hàng để đạt được lợi nhuận tối đa.

IV. Thực Nghiệm Ảnh Hưởng Thu Ngoài Lãi Kết Quả Nghiên Cứu Tại NHTM VN

Để hiểu rõ hơn về tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro & lợi nhuận NHTM VN, nghiên cứu của Nguyễn Kim Tuyến (2019) đã tiến hành phân tích dữ liệu tài chính của 26 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2018. Sử dụng phương pháp định lượng với mô hình hồi quy dữ liệu bảng (POOLED OLS, FEM, REM), nghiên cứu đã đưa ra những kết quả thực nghiệm quan trọng, làm rõ mối liên hệ giữa thu nhập ngoài lãi với rủi ro tín dụngkhả năng sinh lời của các ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập ngoài lãi có tác động cùng chiều đến chất lượng tài sản, tức là đa dạng hóa các nguồn thu có thể làm tăng rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại. Điều này đi ngược lại với kỳ vọng giảm rủi ro khi đa dạng hóa, gợi ý rằng các hoạt động phi tín dụng mới có thể tiềm ẩn những rủi ro mà ngân hàng chưa đủ kinh nghiệm quản trị rủi ro ngân hàng. Tuy nhiên, mặt khác, nghiên cứu cũng khẳng định thu nhập ngoài lãi là biến số có tác động cùng chiều và tích cực đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại. Điều này "minh chứng cho tầm quan trọng của nguồn thu từ các hoạt động ngoài lãi đến lợi nhuận hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu" (Nguyễn Kim Tuyến, 2019).

Ngoài thu nhập ngoài lãi, nghiên cứu còn chỉ ra các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụngkhả năng sinh lời. Cụ thể, tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR), hệ số thanh toán nợquy mô ngân hàng đồng biến với rủi ro tín dụng. Đồng thời, quy mô tín dụng, quy mô tiền gửiquy mô ngân hàng cũng có mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. Những phát hiện này cung cấp cái nhìn đa chiều về bức tranh tài chính ngân hàng tại Việt Nam, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách thiết thực để các ngân hàng thương mại cổ phần phát triển bền vững.

4.1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước về tác động của thu nhập ngoài lãi

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro & lợi nhuận NHTM VN. Võ Xuân Vinh và cộng sự (2015) chỉ ra rằng đa dạng hóa hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi mang lại lợi nhuận cao hơn, nhưng cũng kéo theo rủi ro cao hơn. Lâm Chí Dũng (2015) kết luận thu nhập phi tín dụng nhìn chung tác động tích cực đến khả năng sinh lời, đặc biệt là thu nhập phí dịch vụ đối với ngân hàng quy mô nhỏ. Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cũng khẳng định chỉ số đa dạng hóa thu nhập tác động tích cực lên khả năng sinh lời. Tuy nhiên, Nguyễn Minh Sáng và cộng sự (2018) lại cho rằng thu nhập ngoài lãi không tác động lên rủi ro nhưng lại tác động tích cực lên khả năng sinh lời. Trịnh Thị Thúy Hồng và cộng sự (2018) đồng quan điểm rằng đa dạng hóa thu nhập nâng cao lợi nhuận nhưng đồng thời đối mặt với nhiều rủi ro hơn. Sự đa dạng trong kết quả này phản ánh tính phức tạp của chủ đề và sự cần thiết của các nghiên cứu chuyên sâu, đặc thù cho hệ thống ngân hàng Việt Nam.

4.2. Kết quả chính từ dữ liệu 26 ngân hàng thương mại Việt Nam 2008 2018

Nghiên cứu của Nguyễn Kim Tuyến (2019), sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của 26 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-2018, đã xác định rằng thu nhập ngoài lãi có tác động cùng chiều đến rủi ro tín dụng, được đo lường bằng tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (LLP). Điều này cho thấy khi các ngân hàng tăng cường đa dạng hóa thu nhập, rủi ro tín dụng có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, cùng lúc đó, thu nhập ngoài lãi cũng có tác động cùng chiều và tích cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng, được đo bằng ROA ngân hàngROE ngân hàng. Các yếu tố khác như tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR), tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LOATA) và quy mô ngân hàng (SIZE) cũng có mối quan hệ đồng biến với rủi ro tín dụng. Trong khi đó, quy mô tín dụng, quy mô tiền gửiquy mô ngân hàng cũng được tìm thấy là có mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lời của các NHTM. Những phát hiện này khẳng định tính hai mặt của thu nhập ngoài lãi đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng.

4.3. Hàm ý từ phân tích các chỉ số tài chính ngân hàng và chiến lược kinh doanh

Từ kết quả nghiên cứu, việc phân tích tài chính ngân hàng cho thấy các chỉ số tài chính ngân hàng bị ảnh hưởng rõ rệt bởi thu nhập ngoài lãi. Sự gia tăng của thu nhập ngoài lãi có thể cải thiện khả năng sinh lời nhưng đồng thời cũng làm tăng rủi ro tín dụng. Điều này đặt ra một thách thức lớn trong việc cân bằng giữa lợi nhuậnrủi ro. Các ngân hàng thương mại cần phải có chiến lược rõ ràng để tối ưu hóa thu nhập ngoài lãi mà không làm gia tăng quá mức rủi ro hoạt độngrủi ro thị trường. Hàm ý quan trọng là các ngân hàng không nên chỉ tập trung vào việc tăng trưởng doanh thu ngân hàng từ các hoạt động phi tín dụng một cách đơn thuần, mà cần phải đầu tư vào hệ thống quản trị rủi ro ngân hàng tiên tiến, nâng cao năng lực thẩm định và giám sát các hoạt động mới. Đồng thời, việc tối ưu hóa chi phí hoạt động ngân hàng cũng là một yếu tố then chốt để đảm bảo lợi nhuận ròng được cải thiện bền vững.

V. Nâng Cao Vị Thế Chính Sách Tối Ưu Thu Ngoài Lãi Cho NHTM VN

Tổng kết lại, nghiên cứu về tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro & lợi nhuận NHTM VN đã làm rõ tính hai mặt của nguồn thu nhập này. Mặc dù thu nhập ngoài lãi có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại, nó cũng đồng thời làm gia tăng rủi ro tín dụng và các rủi ro hoạt động khác. Điều này đòi hỏi các ngân hàng thương mại cổ phần cần có những chiến lược cân bằng và chính sách phù hợp để khai thác hiệu quả tiềm năng của hoạt động phi tín dụng mà vẫn đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các NHTM VN không thể ngừng đa dạng hóa thu nhập trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt và quy định ngân hàng ngày càng chặt chẽ về rủi ro tín dụng từ Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, cách thức đa dạng hóa cần được thực hiện một cách thận trọng và có kiểm soát.

Để nâng cao vị thế và đạt được bền vững lợi nhuận, các ngân hàng thương mại cần tập trung vào việc xây dựng nền tảng vững chắc cho các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng. Điều này bao gồm việc đầu tư vào công nghệ số, phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử, tư vấn tài chính cá nhân và doanh nghiệp, cũng như mở rộng các dịch vụ quản lý tài sảnbảo hiểm ngân hàng. Quan trọng hơn cả là phải tăng cường quản trị rủi ro ngân hàng toàn diện, đặc biệt là đối với các loại rủi ro mới phát sinh từ hoạt động phi tín dụng. Ngân hàng Nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ban hành các quy định ngân hàng phù hợp, tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để các NHTM VN phát triển thu nhập ngoài lãi một cách lành mạnh và có trách nhiệm. Sự hợp tác giữa cơ quan quản lý và các ngân hàng sẽ định hình xu hướng ngân hàng Việt Nam trong tương lai, hướng tới một hệ thống ngân hàng không chỉ sinh lời cao mà còn an toàn và ổn định.

5.1. Khuyến nghị chính sách từ Ngân hàng Nhà nước và các NHTM để tối ưu thu nhập ngoài lãi

Dựa trên kết quả nghiên cứu, Ngân hàng Nhà nước và các NHTM VN cần triển khai các hàm ý chính sách đồng bộ. Đối với Ngân hàng Nhà nước, việc ban hành các quy định ngân hàng chi tiết hơn về quản trị rủi ro đối với hoạt động phi tín dụng là cấp thiết, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng đa dạng hóa thu nhập một cách an toàn. Cụ thể, cần có hướng dẫn rõ ràng về tiêu chuẩn vốn, giám sát rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động trong các lĩnh vực như đầu tư chứng khoán ngân hàngkinh doanh ngoại hối ngân hàng. Về phía các ngân hàng thương mại, cần tập trung vào nâng cao năng lực quản trị rủi ro ngân hàng, đặc biệt là rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động liên quan đến thu nhập ngoài lãi. Đầu tư vào đào tạo nhân sự, công nghệ và xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ chặt chẽ cho các hoạt động phi tín dụng là then chốt. Việc này sẽ giúp tối ưu hóa lợi nhuận từ thu nhập ngoài lãi đồng thời giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn (Nguyễn Kim Tuyến, 2019).

5.2. Xu hướng phát triển và đa dạng hóa hoạt động phi tín dụng tương lai

Xu hướng ngân hàng Việt Nam trong tương lai sẽ tiếp tục chứng kiến sự gia tăng và đa dạng hóa hoạt động phi tín dụng. Các ngân hàng thương mại sẽ không ngừng tìm kiếm các nguồn thu nhập ngoài lãi mới thông qua việc phát triển các sản phẩm dịch vụ dựa trên công nghệ số (ngân hàng số, ví điện tử), tư vấn tài chính cá nhân hóa, và mở rộng sang các lĩnh vực như bảo hiểm ngân hàng (bancassurance) và quản lý tài sản. Sự chuyển đổi này không chỉ là một yêu cầu để tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng mà còn là một yếu tố sống còn để duy trì sức cạnh tranh trong một thị trường ngày càng biến động. Để đảm bảo bền vững lợi nhuận, các NHTM cần chủ động nắm bắt công nghệ, đổi mới sáng tạo trong sản phẩm dịch vụ, và liên tục nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua việc quản lý tốt chi phí hoạt động ngân hàng và tối ưu hóa tài sản có sinh lời. Điều này sẽ giúp các NHTM VN không chỉ thích nghi mà còn dẫn đầu trong kỷ nguyên số hóa và hội nhập.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, nghiên cứu đã trình bày tính cấp thiết của đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu chung cũng như từng mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của đề tài nghiên cứu. download by : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Cơ sở lý thuyết về thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại 2. Thu nhập của ngân hàng thương mại Các khoản thu nhập của NHTM được tạo ra từ nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng.

Trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, thu nhập của ngân hàng được chia thành sáu khoản mục lớn là thu nhập từ hoat động tín dụng, thu nhập từ hoat động dịch vụ, thu nhập từ hoat động kinh doanh ngoại hối, thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác, thu nhập góp vốn mua cổ phần và thu nhập khác. Khi phân tích đánh giá hoạt động của NHTM, tùy theo mục đích của nghiên cứu, các nhà phân tích thường sẽ lựa chọn tiêu chí để phân loại. Trong khuôn khổ luận văn về đề tài tác động của thu nhập ngoài lãi lên rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của NHTM, tác giả tham khảo cách phân loại thu nhập của NHTM thành hai loại là thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Tiêu thức phân loại này nhằm đánh giá mức độ đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và phân tán rủi ro của NHTM hay để đánh giá mức độ tăng trưởng hoạt động dịch vụ ngoài tín dụng của một ngân hàng theo thời gian hoặc giữa các ngân hàng trong hệ thống với nhau.

Thu nhập từ lãi là khoản thu từ nghiệp vụ tín dụng. Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Đóng vai trò là cầu nối giữa người có tiền nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế, NHTM hưởng lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Sự chênh lệch này được gọi là thu nhập ròng từ lãi cho vay (Net Interest Income) hay được gọi là thu nhập từ hoạt động tín dụng (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền, 2010).

Đối với NHTM, lãi cho vay chính là nguồn thu nhập chính, có ảnh hưởng quyết định đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, phản ánh hiệu quả trong việc sử dụng vốn của ngân hàng. download by : skknchat@gmail.com 8 Thu nhập ngoài lãi là khoản thu nhập của NHTM được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm dịch vụ cũng như các hoạt động kinh doanh, đầu tư. Khoản thu nhập này gọi là thu nhập ngoài lãi cho vay (Non-Interest Income) hay thu nhập từ hoạt động ngoài tín dụng (Hoàng Ngọc Tiến và cộng sự, 2010). Thu nhập ngoài lãi bao gồm các khoản thu từ việc ngân hàng đầu tư chứng khoán, góp vốn, mua cổ phần với các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế; thu từ kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ, các khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán của vàng bạc đá quý và ngoại tệ; thu từ phí hoa hồng, các dịch vụ ngân hàng khi NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán, thu chi hộ, ủy thác, tư vấn, bảo lãnh, cho thuê các phương tiện cất trữ… cho doanh nghiệp và cá nhân; thu tiền thừa quỹ, thừa tài sản hoặc thu nợ vay của khách hàng sau khi đã xóa được nợ… (Võ Xuân Vinh và cộng sự, 2015).

Như vậy trong khuôn khổ luận văn này, thu nhập của NHTM sẽ bao gồm thu nhập từ lãi là khoản mục thu nhập từ hoạt động tín dụng và thu nhập ngoài lãi là năm khoản mục (thu nhập từ hoat động dịch vụ, thu nhập từ hoat động kinh doanh ngoại hối, thu nhập từ hoat động kinh doanh khác, thu nhập góp vốn mua cổ phần, thu nhập khác) trên trên báo cáo kết quả kinh doanh ngân hàng. Lợi ích của thu nhập ngoài lãi mang lại cho ngân hàng thương mại Các NHTM Việt Nam đang ngày càng tập trung nguồn lực vào các hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi trong bối cảnh hoạt động tín dụng có nhiều rủi ro, nguồn thu từ hoạt động tín dụng chưa thật sự ổn định. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi càng lớn thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài tín dụng cũng như hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này trong NHTM (Hoàng Ngọc Tiến và cộng sự, 2010). Các ngân hàng sẽ tận dụng có hiệu hiệu quả nguồn nhân lực, từ đó giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận cho ngân hàng.

Đồng thời tăng thu nhập ngoài lãi cũng có tác dụng phân tán và giảm rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng (Lê Long Hậu và cộng sự, 2015). Về lý thuyết, việc đa dạng hóa nguồn thu nhập, tăng tỷ lệ thu nhập ngoài download by : skknchat@gmail.com 9 lãi trong cơ cấu tổng thu nhập có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định hơn nguồn thu từ hoạt động tín dụng cho ngân hàng (Odesanmi và Wolfe, 2007). Ngược lại, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi còn thấp thì thể hiện hạn chế của ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, hay đơn giản là ngân hàng chỉ tập trung vào hoạt động tín dụng truyền thống mà thôi. Dưới áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng của các TCTD, sự hiểu biết, nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng cũng như sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ hiện đại, các NHTM đang ra sức mở rộng danh mục các sản phẩm dịch vụ tài chính để cung cấp cho khách hàng.

Với việc đa dạng hóa thu nhập, mở rộng các hoạt động phi truyền thống ngoài lãi, các NHTM có thể cạnh tranh trên phân khúc thị trường rộng hơn, kiếm được thu nhập ngày càng nhiều hơn, từ đó giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng, vốn là hoạt động có nhiều rủi ro của NHTM. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại 2. Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế, của cải không được phân phối đồng đều, có những tổ chức và cá nhân có nhiều tiền hơn nhu cầu trong khi lại có những người có ít hơn. Kết quả là dẫn đến sự tồn tại của thị trường tiền tệ mà trong đó, các ngân hàng đóng vai trò quan trọng là trung gian tài chính giữa người cho vay và người đi vay.

Ngân hàng huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại để cung cấp tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và cá nhân đang cần hỗ trợ tài chính. Đây chính là nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ sinh lời lớn nhất thông qua lãi cho vay đồng thời cũng là nghiệp vụ nhiều rủi ro nhất của ngân hàng thương mại. Theo định nghĩa của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS), rủi ro tín dụng được định nghĩa theo truyền thống là rủi ro mất mát từ một người vay hoặc đối tác không trả được số tiền còn nợ (gốc hoặc lãi) cho ngân hàng một cách kịp thời dựa trên lịch thanh toán đã thỏa thuận trước đó. Theo định nghĩa toàn diện, rủi ro tín dụng thực sự sẽ bao gồm rủi ro giá trị, tức là rủi ro mất giá trị từ một người đi vay chuyển sang xếp hạng tín dụng thấp hơn (chi phí download by : skknchat@gmail.com 10 cơ hội của việc không định giá cho vay chính xác cho mức độ rủi ro mới) mà không bị vỡ nợ.

Để bảo vệ ngân hàng chống lại sự biến động về mức độ tổn thất mặc định hay giá trị (cũng như các loại rủi ro khác), các ngân hàng đã áp dụng các phương pháp cho phép định lượng các rủi ro đó và từ đó lấy được số vốn cần thiết để đảm bảo duy trì đủ nguồn vốn bù đắp cho các khoản lỗ có thể phát sinh từ những rủi ro mà ngân hàng đang nắm giữ. Theo Ngân hàng Trung ương châu Âu, rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay không thanh toán được một phần hoặc toàn bộ khoản vay khi đáo hạn. Altman và Sabato (2007) cho rằng cơ bản rủi ro tín dụng được hiểu là khả năng của khách hàng không có đủ nguồn lực để hoàn trả các khoản thanh toán khi đến hạn. Duffie và Singleton (2003) có cách hiểu tương tự như Altman về rủi ro tín dụng, tác giả định nghĩa rủi ro tín dụng là xác suất vỡ nợ hoặc giảm giá trị trên thị trường gây ra bởi sự dao động trong chất lượng tín dụng của ngân hàng hoặc người đi vay.

Nói cách khác, rủi ro tín dụng được các học giả chấp nhận rộng rãi là giảm chất lượng tín dụng của người vay. Altman et alx (1998) nói rằng mọi khách hàng và mọi giao dịch đều mang yếu tố rủi ro tín dụng. Có nguy cơ người đi vay có thể không trả tiền hoặc khoản thanh toán đó sẽ xảy ra ngoài điều khoản giao dịch của ngân hàng và khách hàng. Cả hai đều có tác động trực tiếp đến dòng tiền.

Rủi ro tín dụng được xem xét chủ yếu là rủi ro mà người đi vay không thanh toán được nợ vay. Có một xung đột của rủi ro và lợi ích. Trong thị trường tài chính và các hoạt động thương mại khác, nếu muốn đạt được tỷ suất sinh lời cao thì phải chấp nhận rủi ro nhiều hơn. Chính vì vậy tín dụng mới là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận cao nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất của NHTM.

Bonfim và Kim (2014) cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro khi một phần lãi hay gốc hay cả gốc và lãi của khoản cho vay không được thanh toán như cam kết. Sự tồn tại khả năng cạnh tranh của ngân hàng phụ thuộc hầu hết vào năng lực quản lý rủi ro tín dụng để sinh lời. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà Nước dựa trên Hiệp ước vốn Basel II quy định các tỷ lệ an toàn cho hoạt động ngân hàng, ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử download by : skknchat@gmail.com 11 dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ