CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Một số khái niệm cơ bản a) Khái niệm chiến lược: Chiến lược là thuật ngữ được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (strategos) dùng trong quân sự. Mãi đến những năm 60 của thế kỉ XX, thuật ngữ này mới được sử dụng vào trong lĩnh vực kinh doanh và từ đó thuật ngữ chiến lược kinh doanh được ra đời.
Có một số cách hiểu về chiến lược như sau: - Theo Alfred Chandler (1962): “Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của DN, đồng thời áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này”. - Theo Johnson & Scholes (1999): “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên liên quan”. Porter (2006), Chiến lược cạnh tranh, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”. David (2006), Khái luận về quản trị chiến lược, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội: “Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn.
Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi phí, thanh lý và liên doanh”. - Theo Đào Duy Huân (2004), Quản trị chiến lược trong toàn cầu hóa kinh tế, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội. Bản chất của chiến lược kinh doanh là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong khu vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo cách hiểu này thì thuật ngữ chiến lược kinh doanh được dùng theo ba ý nghĩa phổ biến nhất: 1) Xác định các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp; 2) Đưa ra 8 các chương trình hành động tổng quát; 3) Lựa chọn các phương án hành động, triển khai, phân bổ nguồn tài nguyên để thực hiện mục tiêu đó (trang 6).
- Theo Hoàng Văn Hải (2013), Quản trị chiến lược, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Thuật ngữ "chiến lược" đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực quân sự. Dần dần, chiến lược được sử dụng trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội. Thuật ngữ "chiến lược" là sự kết hợp của từ Chiến, nghĩa là chiến đấu, tranh giành và từ Lược, nghĩa là mưu tính.
Như vậy, theo nguồn gốc, chiến lược là những mưu tính nhằm chiến đấu và quan trọng hơn là để giành chiến thắng (8, tr9). Thuật ngữ “chiến lược” thường được dùng theo ba nghĩa phổ biến. Thứ nhất, là các chương trình hoạt động tổng quát và triển khai các nguồn lực chủ yếu để đạt được mục tiêu. Thứ hai, là các chương trình mục tiêu của tổ chức, các nguồn lực cần sử dụng để đạt được mục tiêu này, các chính sách điều hành việc thu nhập, sử dụng và bố trí các nguồn lực này.
Thứ ba, xác định các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các đường lối hoạt động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu này. Như vậy, chiến lược là tập hợp các mục tiêu và các chính sách cũng như các kế hoạch chủ yếu đề đạt được các mục tiêu. Chiến lược phát triển của doanh nghiệp là tập hợp các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp và các chính sách, các kế hoạch, các cách thức chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó. b) Khái niệm chiến lược kinh doanh Việc đưa ra một khái niệm cụ thể về chiến lược kinh doanh thì khá phức tạp.
Tuy nhiên vẫn có thể chỉ ra một số quan niệm về thuật ngữ chiến lược kinh doanh như sau: Một số nhà kinh tế trên thế giới đã thống nhất chiến lược kinh doanh với chiến lược phát triển doanh nghiệp. Đại diện cho quan niệm này là các nhà kinh tế của Boston Consulting group, họ cho rằng “chiến lược phát triển là chiến lược chung của doanh nghiệp, bao gồm các bộ phận của chiến lược thứ cấp là chiến lược marketing, chiến lược tài chính. 9 Song Michael Porter lại chỉ ra rằng mục đích của chiến lược kinh doanh là mang lại những điều kiện thuận lợi nhất nhằm tạo lập lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Còn theo quan điểm của Ngô Kim Thanh (2011) “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn cho doanh nghiệp.
Tóm lại có thể hiểu chiến lược kinh doanh là cách thức mà doanh nghiệp làm thế nào để cạnh tranh thành công trong một thị trường cụ thể, nó liên quan đến việc lựa chọn sản phẩm, xác định và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, cách thức giành lợi thế cạnh tranh trước đối thủ cách khai thác và tạo ra cơ hội mới. c) Quản trị chiến lược Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và các hành động làm cơ sở cho việc thiết lập và triển khai các kế hoạch được thiết kế để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Quản trị chiến lược là khoa học và nghệ thuật thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng, cho phép tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra. Theo Hoàng Văn Hải (2013) Quản trị chiến lược, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội: Quản trị chiến lược là hệ thống các quyết định và hành động nhằm đạt được thành công lâu dài của tổ chức.
Các quyết định và hành động gắn kết với nhau thành hệ thống hướng tới mục tiêu thành công lâu dài và bền vững. Vì vậy, quản trị chiến lược sẽ đặt các nhà quản trị trước sự lựa chọn giữa thành tích ngắn hạn với thành công lâu dài, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Quản trị chiến lược là hệ thống nhỏ trong hệ thống lớn - Hệ thống quản trị doanh nghiệp, gắn chặt với quản trị tác nghiệp và quản trị rủi ro. Quản trị chiến lược được phân chia thành ba giai đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: (i) hoạch định chiến lược; (ii) thực thi chiến lược; (iii) kiểm soát chiến lược.
Tiến trình quản trị chiến lược bao gồm các giai đoạn khác nhau. Trong đó, việc phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài cũng như nguồn lực và khả năng bên trong của tổ chức ở thời điểm hiện tại và tương lai là vô cùng quan trọng. Thông qua việc 10 phân tích đó, các điểm mạnh và điểm yếu nội tại của doanh nghiệp có thể được giải quyết để tranh thủ các cơ hội và né tránh các thách thức từ môi trường bên ngoài, đồng thời cho phép doanh nghiệp hoạch định các mục tiêu một cách rõ ràng, phối hợp việc xây dựng và lựa chọn một số chiến lược hợp lý để đạt được mục tiêu đề ra. Như vậy, quản trị chiến lược là khoa học và nghệ thuật về chiến lược nhằm xây dựng phương hướng và mục tiêu kinh doanh, triển khai, thực hiện kế hoạch ngắn hạn và dài hạn trên cơ sở nguồn lực hiện có nhằm giúp cho mỗi tổ chức có thể đạt được các mục tiêu dài hạn của nó.
d) Khái niệm triển khai chiến lược kinh doanh Theo quan điểm của Ngô Kim Thanh (2011) “Triển khai chiến lược kinh doanh là việc cụ thể hóa hay chia nhỏ mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp thành các mục tiêu hàng năm rồi phân bổ các nguồn lực, thiết lập các chính sách nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”. Có thể hiểu một cách cụ thể hơn, triển khai chiến lược đó là một giai đoạn của quá trình quản trị chiến lược tại doanh nghiệp. Nó là quá trình chuyển từ ý tưởng chiến lược đã được hoạch định thành các hành động cụ thể, đi từ bao quát đến cụ thể, từ tầm nhìn chung rộng lớn cho đến ngân sách cụ thể hàng năm. Triển khai chiến lược kinh doanh có ảnh hưởng quan trọng đến các phòng ban chức năng trong công ty.
Triển khai chiến lược kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đảm bảo sự thành công của toàn bộ quá trình quản trị chiến lược, là quá trình chuyển từ xây dựng chiến lược thành những hành động cụ thể. Khái niệm và nội dung của các cấp độ chiến lược kinh doanh 1. Chiến lược cấp Công ty Chiến lược ở cấp doanh nghiệp liên quan đến việc lựa chọn các hoạt động kinh doanh ở đó các đơn vị kinh doanh phải cạnh tranh, đồng thời có sự phát triển và phối kết hợp giữa các đơn vị với nhau. Chiến lược cấp doanh nghiệp có các đặc điểm: 11 - Định hướng mục tiêu chung và nhiệm vụ của doanh nghiệp: Bao gồm việc xác định các mục tiêu, các dạng hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tiến hành và cách thức quản lý và phối kết hợp các hoạt động.
- Định hướng cạnh tranh: Đó là việc xác định thị trường hoặc đoạn thị trường mà doanh nghiệp sẽ cạnh tranh. - Quản lý các hoạt động kinh doanh độc lập và mối quan hệ giữa chúng: Chiến lược doanh nghiệp phát triển và khai thác thông qua việc phân chia và phối kết hợp các nguồn lực giữa các đơn vị độc lập hoặc giữa các hoạt động riêng rẽ. Chiến lược cấp kinh doanh Một đơn vị kinh doanh chiến lược có thể là một bộ phận trong doanh nghiệp, một dòng sản phẩm hay một khu vực thị trường, chúng có thể được kế hoạch hóa một cách độc lập. Ở cấp độ đơn vị kinh doanh, vấn đề chiến lược đề cập ít hơn đến việc phối kết hợp giữa các đơn vị tác nghiệp nhưng nhấn mạnh hơn đến việc phát triển và bảo vệ lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm và dịch vụ mà đơn vị quản lý.
Chiến lược đơn vị kinh doanh liên quan đến: - Việc định vị hoạt động kinh doanh để cạnh tranh. - Dự đoán những thay đổi của nhu cầu, những tiến bộ khoa học công nghệ và điều chỉnh chiến lược để thích nghi và đáp ứng những thay đổi này. - Tác động và làm thay đổi tính chất của cạnh tranh thông qua các hoạt động chiến lược như là gia nhập theo chiều dọc hoặc thông qua các hoạt động chính trị. Chiến lược cấp chức năng Cấp độ chức năng của tổ chức đề cập đến các bộ phận tác nghiệp.
Chiến lược ở cấp độ này liên quan đến các quy trình tác nghiệp của các hoạt động kinh doanh và các bộ phận của chuỗi giá trị.