Chương 1: Giới thiệu chung; - Chương 2: Tổng quan cơ sở lý luận phục vụ cho đề tài nghiên cứu - Chương 3: Phân tích môi trường kinh doanh của Tổng công ty 319 - Chương 4: Xây dựng chiến lược kinh doanh của Tổng công ty 319 - Phần kết luận Chương 2 TONG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHIEN LƯỢC KINH DOANH 2. Khái niệm về chiến lược kinh doanh Khái niệm “chiến lược” có từ thời Hy Lạp cô đại, thuật ngữ này có nguồn gốc sâu xa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” nghĩa là vai trò của vị tướng trong quân đội. Trong lịch sử loài người, rất nhiều nhà lý luận quân sự như Tôn Tu, Alexander, Clausewitz, Napoleon, Stonnewal Jackson, Doulas MacArthur đã đề cập va viết về chiến lược trên nhiều góc độ khác nhau. Luận điểm cơ bản của chiến lược theo đó là một bên đối phương có thể đè bẹp đối thủ, thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn nếu họ có thể dẫn dắt thế trận và đưa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình.
Kết quả của chiến lược quân sự là một kết cục với một bên thắng và bên thua. Tuy nhiên, so với chiến lược quân sự, chiến lược kinh doanh phức tạp hơn. Không giống như xung đột quân sự, cạnh tranh trong kinh doanh không phải lúc nào cũng gây ra kết cục có kẻ thắng người thua. Sự ganh đua trong ngành đôi khi có cơ hội dé họ cải thiện sức mạnh va kỹ năng của mình.
Các học giả có quan điểm, nhìn nhận chiến lược kinh doanh ở nhiều góc độ khác nhau. Michael Porter, nhà quản trị chiến lược nổi tiếng của trường đại học Harvard thì chiến lược kinh doanh được coi là nghệ thuật dé cạnh tranh trên thi trường va phát triển Công ty “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc dé phòng thủ”. Theo quan điểm về phạm trù quản lý thì chiến lược kinh doanh là một dạng kế hoạch, G.Arlleret cho rằng “Chiến lược là việc xác định những con đường và những phương tiện để đạt tới các mục tiêu đã được xác định thông qua các chính sách”.Bizrell và nhóm tác giả nhìn nhận “Chiến lược như là kế hoạch tông quát dan dat hoặc hướng Công ty đi đến mục tiêu mong muốn. Nó là cơ sở cho việc định ra các chính sách và các thủ tục tác nghiệp”.
Theo quan điểm kết hợp sự thống nhất thì chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của Công ty. Theo giáo sư Alfred Chandler thuộc trường đại học Havard định nghĩa “Chiến lược kinh doanh là tiễn trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của Công ty, cách lựa chọn phương hướng hành động và phân bồ tai nguyên nhằm thực hiện các mục tiêu đó”. Tiếp cận với nhiều quan điểm đa diện về chiến lược kinh doanh giúp chúng ta hiểu rõ hơn bởi lẽ mỗi một định nghĩa biểu thị các khía cạnh khác nhau cần phải bao hàm trong đó. Tối thiểu có ba mức chiến lược kinh doanh được nhận diện: Chiến lược cấp Công ty; Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh; Chiến lược cấp chức năng.
Vai trò của chiến lược kinh doanh Đặc điểm của môi trường kinh doanh có ảnh hưởng lớn tới sự ton tại và phát triển của doanh nghiệp. Nó vừa tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nhưng cũng đặt các doanh nghiệp trước các thử thách mới. Nó buộc các doanh nghiệp nếu muốn tôn tại phải tìm ra một phương pháp quan lý mới, đó chính là quản trị chiến lược. Trong đó, chiến lược chính là nền tảng cơ bản của phương pháp quản lý này.
Trong môi trường kinh doanh hiện đại, chiến lược ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự tôn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vai trò đó được thể hiện: - Chiến lược là công cụ thể hiện tổng hợp các mục tiêu dài hạn của tô chức, doanh nghiệp. Mục tiêu của các doanh nghiệp là đích cụ thể mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Việc cụ thé hoá, văn bản hoá các mục tiêu của doanh nghiệp thông qua chiến lược sẽ giúp cho các thành viên trong doanh nghiệp, tổ chức nhận thức rõ họ muốn di tới đâu, vì vậy họ biết họ cần làm gì.
Chính điều đó giúp cho các doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu của mình một cách dễ dàng hơn. - Chiến lược gắn liền các mục tiêu phát triển trong ngắn hạn ở bối cảnh đài hạn. Trong môi trường kinh doanh hiện đại, các doanh nghiệp luôn phải vận động một cách linh hoạt dé thích nghi với môi trường. Tuy nhiên sự vận động có thé làm lệch pha và làm triệt tiêu sự phát triển lâu dài.
Chính chiến lược với các mục tiêu chiến lược sẽ đem lại cho các nhà quản trị một định hướng dài hạn. Và như vậy, việc giải quyết các vẫn đề ngắn hạn trong khuôn khổ của định hướng dài hạn sẽ đem lại sự phát triển vững chắc cho doanh nghiệp. Các mục tiêu dai hạn cũng là cơ sở quan trọng cho các mục tiêu ngắn hạn. - Chiến lược góp phần đảm bảo cho việc thống nhất và định hướng các hoạt động của doanh nghiệp.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, với xu hướng phân công lao động ngày càng mạnh mẽ theo cả chiều sâu và bé rộng, chính vì vậy các công việc của tô chức được thực hiện ở nhiều bộ phận khác nhau. Sự chuyên môn hoa đó cho phép nâng cao hiệu quả của công việc, tuy nhiên các bộ phận chỉ quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của bộ phận mình làm và lại thiếu sự liên kết tổng thé và thường không đi theo mục tiêu chung của tô chức. Chính vì thế có khi các hoạt động lại cản trở nhau gây thiệt hại cho mục tiêu của tổ chức, đó là nguyên nhân của tình trạng thiếu một chiến lược của tổ chức. Do đó chiến lược góp phần cung cấp một quan điểm toan diện và hệ thống trong việc xử lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn kinh doanh nhằm tạo nên một sức mạnh cộng hưởng của toàn bộ các bộ phận, các cá nhân trong doanh nghiệp hướng tới một mục tiêu duy nhất đó là mục tiêu chung của doanh nghiệp.
- Chiến lược giúp cho các doanh nghiệp, các tô chức nắm bắt được các cơ hội thị trường và tạo thế cạnh tranh trên thương trường. Thống nhất quá trình hoạt động nhằm đạt đến các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược của doanh nghiệp và như vậy sẽ thúc đây doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hữu hạn có hiệu quả nhất. Do đó các doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhanh nhất các cơ hội trên thương trường, tận dụng tối đa khả năng sẵn có dé tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới. Những vai trò cơ bản của chiến lược đã khang dinh su can thiét khach quan của chiến lược trong hoạt động quản trị nói chung va quản tri kinh doanh nói riêng trong một nền kinh tế hiện đại.
Vì thế việc tiếp cận và áp dụng chiến lược là một vẫn đề rất cần thiết hiện nay. Phân loại chiến lược 2. Phân loại theo cấp độ quan ly: Trong một tổ chức, chiến lược có thé tiến hành ở 3 cấp cơ bản: Cấp Công ty, cấp đơn vị kinh doanh và cấp bộ phận chức năng. - Chiến lược cấp Công ty: Chiến lược cấp Công ty xác định các hoạt động kinh doanh mà trong đó Công ty sẽ cạnh tranh và phân phối các nguồn lực giữa các hoạt động kinh doanh đó trong dài hạn nhăm hoàn thành các mục tiêu của Công ty.
- Chiến lược cấp kinh doanh (SBU): + Chiến lược cấp kinh doanh được hoạch định nhằm xác định việc lựa chọn sản phẩm hoặc dạng cụ thé thị trường cho hoạt động kinh doanh riêng trong nội bộ Công ty. Trong chiến lược cấp kinh doanh, người ta phải xác định cách thức mỗi đơn vị kinh doanh phải hoàn thành để đóng góp vào sự hoàn thành chung của mục tiêu cấp Công ty. + Chiến lược cấp kinh doanh trong một Công ty có thể là một ngành kinh doanh hay một chủng loại sản phẩm. Chiến lược này nhằm định hướng phát triển từng ngành hay từng chủng loại sản phẩm góp phần hoàn thành chiến lược cấp Công ty, phải xác định lợi thế của từng ngành so với đối thủ cạnh tranh dé đưa ra chiến lược phù hợp với chiến lược cấp Công ty.
+ Chiến lược cấp chức năng: Các Công ty đều có các bộ phận chức năng như: Marketing, nhân sự, tài chính, sản xuất, nghiên cứu và phát trién. các bộ phận này đều cần có chiến lược dé hỗ trợ thực hiện chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp Công ty. Chiến lược cấp chức năng thường có giá trị trong từng giai đoạn của quá trình thực hiện cấp đơn vị kinh doanh và cấp Công ty. Như vậy các chiến lược của ba cấp cơ bản này không độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Phân loại theo chức năng: Căn cứ vào chức năng mà chiến lược có thể được chia thành những nhóm sau: - Nhóm chiến lược kết hợp: Trong nhóm chiến lược này có chiến lược kết hợp về phía trước, kết hợp về phía sau và kết hợp theo chiều ngang. + Kết hợp về phía trước: Doanh nghiệp thực hiện để tăng quyền kiêm soát hoặc quyền sở hữu đối với các nhà phân phối hoặc bán lẻ. + Kết hợp về phía sau: Doanh nghiệp thực hiện tăng quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với các nhà cung cấp. Điều này sẽ cho phép doanh nghiệp ồn định trong việc cung cấp, kiểm soát được chi phí đầu vao.
+ Kết hợp theo chiều ngang: Doanh nghiệp muốn kiểm soát các đối thủ cạnh tranh. Chiến lược nay cho phép tập trung tài nguyên, mở rộng phạm vi hoạt động và làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. - Nhóm chiến lược chuyên sâu: Trong nhóm này có các chiến lược như chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược phát triển thị trường và chiến lược phát triển sản phẩm. + Chiến lược thâm nhập thị trường: Làm tăng thị phần cho các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có trong thị trường hiện tại của doanh nghiệp.
+ Chiến lược phát triển thị trường: Đưa vào những khu vực địa lý mới các sản phâm hoặc dịch vụ hiện có của doanh nghiệp. + Chiến lược phát triển sản phẩm: Đưa vào thị trường hiện tại các sản pham hoặc dịch vụ tương tự sản phẩm hiện có của doanh nghiệp nhưng đã được cải tiễn sửa đồi.