CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DUNG CHIEN LƯỢC KINH DOANH 1. Tổng quan các nghiên cứu về xây dựng chiến lược kinh doanh 1. Nghiên cứu tại Việt Nam Tác giả Hà Đức Anh (2009) với đề tài “Phân tích chiến lược kinh doanh của công ty cổ phan dược phẩm Yên Bái dựa vào mô hình Delta và bản đô chiến lược, đề xuất đến năm 2015” đã dựa trên mô hình Dự án Delta và khung bản đồ chiến lược để nghiên cứu, phân tích, đánh giá chiến lược kinh doanh của Công ty cổ phan dược pham Yên Bái, một công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông và phân phối thuốc. Đề tài đã phân tích, đánh giá chiến lược kinh doanh của công ty cô phần dược phẩm Yên Bái dựa trên các mô hình Dự án Delta, xem chiến lược mà công ty đưa ra đã hợp lý chưa? Đâu là điểm mạnh, điểm yếu? Từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp về chiến lược của công ty cổ phần Yên Bái trong giai đoạn tiếp theo.
Đề tài này sử dụng mô hình Delta nên không phù hợp với định hướng nghiên cứu của tác giả, tuy nhiên đây cũng là đề tài có tính tham khảo tốt. Luận văn thạc sỹ ngành quản trị kinh doanh Phạm Đăng Hưng (2011), với đề tài “Xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty Mobifone đến 2015” đã hệ thống hóa lý luận về chiến lược kinh doanh, đồng thời xác định các yếu tố tác động đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp. Trên cơ sở lý luận được hệ thống, luận văn đã đi sâu trong việc phân tích và đánh giá tác động từ môi trường kinh doanh đến kết quả hoạt động của Công ty Mobifone. Tác giả đã lựa chọn các chiến lược kinh doanh phù hợp với thực trạng của Công ty Mobifone, đồng thời đề ra những giải pháp, kiến nghị giúp cho việc thực hiện có hiệu quả chiến lược kinh doanh của công ty.
Luận văn thạc sỹ “Xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty Vissan” của Tran Thị Diễm (2007) nghiên cứu thực trạng sản xuất và kinh doanh của công ty trên thị trường cả nước cho thấy thị trường thực phẩm rất đa dạng: đa dạng về chủng loại, 29 đa dạng về công ty cạnh tranh, đa dạng về tập quán tiêu dùng. Đề tài rút ra được một số điểm sau: công ty chưa tạo được lợi thế marketing, là một công ty lớn nhưng các hoạt động nghiên cứu thị trường, tiếp thị, kích thích tiêu thụ.chưa có hiệu quả. Tuy nhiên đề tài này nghiên cứu về chiến lược marketing sản phẩm, chỉ là một bộ phận của các các chiến lược. Đề tải có tính chất tham khảo nhất định.
Nghiên cứu trên thế giới Với nghiên cứu Triển khai chiến lược kinh doanh của Aaker (2007), tác giả nhận định muốn quản trị thành công một doanh nghiệp nhất thiết phải có chiến lược kinh doanh. Vấn đề then chốt là đặt ra một hệ thống quản trị sao cho nhà quản trị: Có được một tầm nhìn rõ nét về công việc của mình; Có thể bao quát và hiểu được môi trường năng động của kinh doanh; Từ đó chọn ra những giải pháp chiến lược phù hợp một cách sáng tạo và khôn ngoan; Để có một sách lược cạnh tranh dựa trên lợi thé của mình. Nghiên cứu được chia thành bốn chủ đề. Chủ dé 1 là phương pháp phân tích môi trường kinh doanh.
Chủ đề 2 là chọn lợi thế cạnh tranh lâu dài, gọi tắt là SCA. Phải chọn SCA trên cơ sở tô chức và năng lực của doanh nghiệp. Chủ dé 3 là quyết định đầu tư. Cần phải biết chọn lựa khi nào thì đầu tư hoặc giải tư, và đầu tư/giải tư ở mức độ nào.
Chủ đề 4 là thực thi chiến lược. Muốn chiến lược thành công nhà quản trị phải hiểu rõ cơ cấu, hệ thống, con người, nền văn hóa của tô chức. Phải biết thích ứng với môi trường kinh doanh, biết liên kết để giành ưu thế, biết tiến thoái khi thị trường không chấp nhận hoặc khi bi áp lực cạnh tranh toan cầu. Nghiên cứu vừa là hoạch định vừa là thực hiện các chiến lược trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Nghiên cứu chiến lược thuê ngoài cho các công ty có quy mô nhỏ, Toronto, (2014) đề xuất hai chiến lược: Chiến lược 1: nghiên cứu và phát triển các loại thuốc (giai đoạn lâm sàng I/IIa) chưa có bản quyền hoặc đồng hợp tác với các công ty lớn có nguồn lực hiện đại. Chiến lược 2: nghiên cứu và phát triển thuốc ở giai đoạn sau của các loại đã được cấp bản quyền (giai đoạn lâm sàng III) và hợp tác với công ty lớn có lợi thế về sản xuất thương mại. Theo phân tích của tác giả, các công ty được nhỏ thường thiếu các thiết bị cần thiết để sản xuất với quy mô lớn hoặc không có cơ sở hạ tầng chất lượng để sản xuất các sản phẩm đạt tiêu chuan GMP. Với nguồn lực nội bộ hạn chế thì thì thuê ngoài cung cấp dược phẩm là chiến lược chủ chốt của các công ty dược có quy mô nhỏ.
Nghiên cứu về các lựa chọn chiến lược trong ngành dược, Cohen, và cộng sự (2007) đề cập các chiến lược kinh doanh: 1) sáp nhập và hợp nhất, 2) sản phẩm mới được cấp phép và 3) phát triển chiến lược hợp tác với doanh nghiệp được hoặc công nghệ sinh học khác. Từ phân tích về môi trường kinh doanh, chính sách côngvà năng lực nghiên cứu có chiều hướng giảm, không có dấu hiệu cải thiện, nhóm tác giả gợi ý bảy chiến lược thay thế cho các công ty được có quy mô lớn lựa chọn: chiến lược 1: tái tổ chức nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực điều trị; chiến lược 2: tái tổ chức nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực điều trị nền tảng; chiến lược 3: dừng nghiên cứu; chiến lược 4: liên kết với các công ty cùng quy mô; chiến lược 5: thay đổi nghiên cứu tập trung vào các sản phẩm dựa trên công nghệ sinh học tiên tiến; chiến lược 6: chuyển hướng nghiên cứu tập trung vào chiến lược dẫn đầu chân đoán; và chiến lược 7: tinh chỉnh khả năng được cấp phép sản phâm. Nhìn chung, bảy chiến lược thay thế trên được đề xuất cho các công ty được phẩm lớn có điều kiện nghiên cứu phát triển sản phâm mới nên khả năng áp dụng khá hạn chế đối với các công ty dược phâm có quy mô nhỏ. Các công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến khái niệm về chiến lược, về quy trình xây dựng chiến lược của một tô chức, nội dung cơ bản của một chiến lược, các công cụ giúp phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, quá trình xây dựng các phương án chiến lược, chọn lựa chiến lược phù hợp và cách thức triển khai có hiệu quả, chính xác chiến lược.
Các nghiên cứu đã cung cấp hệ thống lý thuyết cũng như các tình hướng trong xây dựng và thực hiệnchiến lược kinh doanh tại các doanh nghiệp, là những cơ sở vững chắc về lý thuyết cũng như thực tế cho luận văn này tham khảo trong quá trình thực hiện. Cơ sở lý luận về chiến lược và xây dựng chiến lược 1. Khái niệm về chiến lược Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược, nguyên nhân cơ bản có sự khác nhau này là do có các hệ thống quan niệm khác nhau về tổ chức nói chung và các phương pháp tiếp cận khác nhau về chiến lược của tổ chức nói riêng. Theo Johnson và Scholes: “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tô chức trong đài hạn, ở đó tô chức phải giành được loi thé thông qua việc kết hợp các nguén lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhăm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thi frường và đáp ứng mong muốn của các đác nhân có liên quan đến tổ chức”.
Theo Michael Porter (1996), “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc. và kết hợp chúng với nhau. cốt lõi của chiến lược là “iva chon cai chưa được lam”.
Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm. Bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh, vị trí chiến lược chỉ có thể được bảo vệ lâu dài khi có sự khác biệt được tạo ra. Có các cách khác nhau dé định nghĩa chiến lược là những giải pháp tông quát, mang tính định hướng giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu dải hạn. Chiến lược dựa vào các thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp và được lựa chọn theo một tiến trình mang tính khoa học.2 Khái niệm chiến lược kinh doanh Tur thập ky 60, thé ky XX, chién lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ "Chiến lược kinh doanh" ra đời.
Quan niệm về chiến lược kinh doanh phát triển dan theo thời gian và người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau. Nói về khái niệm chiên lược kinh doanh, có nhiêu tác gia cả trong nước va ngoài nước đã có những tong kết riêng của minh, trong số đó có thé ké tới những quan niệm hay khái niệm về chiến lược kinh doanh như dưới đây. Năm 1962, Chandler định nghĩa chiến lược như là "việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bé các nguồn lực cần thiết dé thực hiện mục tiêu này". Năm 1980 Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn "Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thê được cố kết một cách chặt chẽ".
Ngày nay, thuật ngữ chiến lược đã được sử dụng khá phô biến ở Việt Nam trong nhiều lĩnh vực ở cả phạm vi vĩ mô cũng như vi mô. Ở phạm vi doanh nghiệp ta thường gặp thuật ngữ chiến lược kinh doanh hoặc chiến lược công ty, quản tri chiến lược,. Sự xuất hiện các thuật ngữ nay không don thuần là sự vay mượn. Các khái niệm chiến lược đều bắt nguồn từ sự cần thiết khách quan trong thực tiễn quản trị của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay.
Nói tóm lại, khi nói về chiến lược kinh doanh, có nghĩa là các công ty hay doanh nghiệp phải tổng hợp các mục tiêu dai han, các chính sách và giải pháp lớn về sản xuất kinh doanh, về tài chính và con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của mình lên một trạng thái cao hơn về chất.