Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Tây Nguyên hiện có 85 cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang hoạt động, trong đó có 06 trường cao đẳng nghề công lập, chiếm khoảng 3% tổng số lượng các trường cao đẳng nghề trên phạm vi cả nước. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp theo tinh thần Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, việc chuyển đổi mô hình quản trị sang cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm tài chính là yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, nguồn ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên hiện có xu hướng thu hẹp, trong khi khả năng huy động nguồn thu sự nghiệp của các trường còn gặp nhiều trở ngại do đặc thù kinh tế - xã hội vùng cao.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở khoa học và đánh giá toàn diện thực trạng quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại 06 trường cao đẳng nghề vùng Tây Nguyên (bao gồm tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk và Gia Lai) trong giai đoạn 2014 - 2016. Luận văn tập trung nhận diện những rào cản nội tại và khách quan, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả tự chủ tài chính giai đoạn tiếp theo. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp căn cứ định lượng giúp các nhà quản lý cơ cấu lại tỷ trọng chi thường xuyên (vốn đang chiếm tới 51% - 88% tổng chi), giảm mức độ bao cấp từ ngân sách nhà nước (hiện ở mức 48% - 95%) và phát triển nguồn thu bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management) với trọng tâm là phân cấp quản trị, trao quyền tự quyết tài chính và gắn kết quả đầu ra với chi tiêu ngân sách. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp Lý thuyết Tài chính công về vai trò cung ứng dịch vụ sự nghiệp công lập và chuyển giao gánh nặng tài chính từ nhà nước sang xã hội hóa một cách hợp lý.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh các khái niệm cốt lõi: đơn vị sự nghiệp công lập, cơ chế tự chủ tài chính, nguồn thu sự nghiệp, chi thường xuyên và các quỹ trích lập tài chính. Theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và Thông tư số 71/2006/TT-BTC, quyền tự chủ tài chính của trường cao đẳng nghề bao gồm quyền chủ động tạo lập nguồn thu, quyết định định mức phân bổ chi tiêu nội bộ và trích lập tối thiểu 40% chênh lệch thu chi để tạo nguồn cải cách tiền lương. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp được tổ chức theo 3 cấp trình độ đào tạo gồm: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề, trong đó bậc cao đẳng nghề giữ vai trò đào tạo kỹ thuật thực hành chất lượng cao nhất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo quyết toán tài chính, báo cáo dự toán ngân sách và quy chế chi tiêu nội bộ giai đoạn 2014 - 2016 của các trường cao đẳng nghề tại Tây Nguyên.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, tác giả thực hiện phương pháp chọn mẫu toàn thể (census sampling) với cỡ mẫu gồm toàn bộ 6/6 trường cao đẳng nghề công lập trên địa bàn 3 tỉnh Tây Nguyên. Lý do lựa chọn toàn bộ tổng thể mẫu này nhằm đảm bảo tính đại diện 100%, phản ánh đầy đủ bức tranh tài chính đặc thù của vùng mà không bị sai lệch do chọn mẫu ngẫu nhiên.

Luận văn kết hợp phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh cơ cấu chi và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia thông qua trao đổi với các nhà quản lý tài chính giàu kinh nghiệm. Việc lựa chọn chuỗi phương pháp này nhằm bóc tách chính xác các dòng lưu chuyển tiền tệ, kiểm chứng định mức chi thanh toán cá nhân và đo lường mức độ phụ thuộc vào ngân sách cấp. Timeline nghiên cứu và tổng hợp số liệu được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ tự chủ tài chính của hệ thống trường cao đẳng nghề tại Tây Nguyên còn rất thấp, ngân sách nhà nước vẫn đóng vai trò nguồn tài trợ chủ đạo. Tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách nhà nước trong tổng nguồn tài chính giai đoạn 2014 - 2016 duy trì ở mức cao: Trường Cao đẳng nghề Thanh niên Dân tộc Tây Nguyên phụ thuộc từ 90% đến 95%, Trường Cao đẳng nghề Đắk Lắk từ 89% đến 93%, Trường Cao đẳng nghề Gia Lai từ 88% đến 93%. Đơn vị có mức hỗ trợ ngân sách thấp nhất là Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt cũng ở mức 48% đến 63%.

Thứ hai, chi hoạt động thường xuyên chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng cơ cấu chi (từ 51% đến 88%), trong đó chi cho con người (thanh toán cá nhân) chiếm tỷ lệ quá lớn. Cụ thể năm 2016, chi trả lương và phụ cấp chiếm tới 85% tổng chi thường xuyên tại Trường Cao đẳng nghề Đắk Lắk, 80% tại Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt và 77% tại Trường Cao đẳng nghề Thanh niên Dân tộc Tây Nguyên.

Thứ ba, chi cho nghiệp vụ chuyên môn và cơ sở vật chất bị thu hẹp đáng kể. Tỷ trọng chi nghiệp vụ chuyên môn chỉ dao động trong khoảng 7% đến 21% tổng chi thường xuyên. Khoản chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định có xu hướng sụt giảm, chiếm bình quân chỉ khoảng 2% đến 12% do các trường chuyển sang sử dụng quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.

Thứ tư, nguồn lực dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cực kỳ khiêm tốn. Tỷ lệ chi cho khoa học công nghệ chỉ đạt từ 0,1% đến 1,6% tổng chi của các trường. Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt dẫn đầu với mức chi 300 đến 350 triệu đồng mỗi năm (tương đương 1,3% - 1,6%), trong khi Trường Cao đẳng nghề Thanh niên Dân tộc Tây Nguyên chỉ đạt 40 đến 90 triệu đồng (tương đương 0,1% - 0,3%).

Thảo luận kết quả

Khi mô hình hóa dữ liệu trên biểu đồ cơ cấu chi thường xuyên và bảng phân tích đối chiếu, có thể thấy sự mất cân đối nghiêm trọng giữa chi tiêu cho con người và chi tiêu cho nâng cao chất lượng đào tạo. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước vẫn mang tính chất cào bằng theo biên chế, chưa gắn với định mức kinh tế kỹ thuật và chất lượng đầu ra. Hơn nữa, Tây Nguyên là địa bàn có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, đối tượng người học được thụ hưởng nhiều chính sách miễn giảm học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP, khiến nguồn thu học phí tại chỗ không đủ bù đắp chi phí vận hành.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các công trình nghiên cứu trước đây tại Tuyên Quang và Đắk Lắk, khẳng định rằng các cơ sở dạy nghề công lập tại khu vực miền núi khó có thể tự chủ tài chính toàn phần nếu chỉ dựa vào nguồn thu học phí truyền thống. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc mô hình quản trị tài chính, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và mở rộng dịch vụ thương mại hóa để bù đắp thâm hụt ngân sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc và đa dạng hóa nguồn thu sự nghiệp. Ban Giám hiệu các trường cao đẳng nghề cần chủ động mở rộng liên kết với các doanh nghiệp, tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn, cấp chứng chỉ nghề theo đơn đặt hàng và cung ứng dịch vụ kỹ thuật. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp ngoài ngân sách lên mức 25% - 35% tổng nguồn tài chính trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, tối ưu hóa cơ cấu chi thường xuyên và tăng cường chi chuyên môn. Phòng Kế hoạch - Tài chính tại các trường cần rà soát, cắt giảm tối thiểu 10% - 15% chi phí hành chính và dịch vụ công cộng không cần thiết. Toàn bộ phần kinh phí tiết kiệm được phải ưu tiên bổ sung vào chi mua sắm vật tư thực hành và tài liệu giảng dạy, nâng tỷ trọng chi nghiệp vụ chuyên môn lên tối thiểu 20% - 25% tổng chi thường xuyên.

Thứ ba, gia tăng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Hội đồng khoa học các trường cần xây dựng cơ chế khoán kinh phí nghiên cứu gắn với sản phẩm ứng dụng thực tế. Phấn đấu nâng tỷ lệ chi cho nghiên cứu khoa học từ mức dưới 1% hiện nay lên đạt mức 3% - 5% tổng chi ngân sách hằng năm trước năm 2021.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách và đặt hàng đào tạo. Ủy ban nhân dân các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai phối hợp cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chuyển đổi phương thức cấp phát ngân sách bình quân sang phương thức đấu thầu, đặt hàng dịch vụ đào tạo theo giá dịch vụ sự nghiệp công, đồng thời triển khai lộ trình tinh giản 10% biên chế sự nghiệp theo Nghị quyết số 39-NQ/TW.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Ban Giám hiệu, Trưởng phòng Kế hoạch - Tài chính và kế toán trưởng tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực chứng giúp các nhà quản lý hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ, tối ưu hóa định mức chi lương và quản lý hiệu quả nguồn trích lập 40% cho cải cách tiền lương.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính các tỉnh Tây Nguyên. Số liệu từ 6 trường cao đẳng nghề là căn cứ thực tế để các cơ quan hoạch định chính sách phân bổ ngân sách, giao quyền tự chủ và xây dựng khung giá đặt hàng dịch vụ đào tạo nghề cho hơn 85 cơ sở trong khu vực.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Quản lý kinh tế và Tài chính công. Luận văn đóng vai trò là tài liệu học thuật giá trị, cung cấp phương pháp tiếp cận và chuỗi số liệu tài chính giai đoạn 2014 - 2016 để phát triển các đề tài mở rộng.

Nhóm thứ tư là giảng viên, chuyên gia giáo dục nghề nghiệp và các đối tác doanh nghiệp. Luận văn gợi mở các hình thức hợp tác đào tạo gắn với sản xuất, giúp xây dựng mô hình liên kết đào tạo - chuyển giao công nghệ hiệu quả cao.

Câu hỏi thường gặp

Mức độ tự chủ tài chính của các trường cao đẳng nghề tại Tây Nguyên hiện nay như thế nào? Mức độ tự chủ tài chính còn rất thấp khi ngân sách nhà nước vẫn phải hỗ trợ từ 48% đến 95% tổng nguồn kinh phí hoạt động. Hầu hết các trường thuộc nhóm tự bảo đảm một phần chi phí thường xuyên, nguồn thu học phí và dịch vụ đào tạo chỉ bù đắp được khoảng 5% đến 20% tổng nhu cầu chi tiêu hằng năm.

Khoản mục chi nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu chi thường xuyên của các trường? Chi thanh toán cá nhân gồm tiền lương, tiền công, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương chiếm tỷ trọng lớn nhất, dao động từ 61% đến 85% tổng chi thường xuyên. Thực trạng này khiến nguồn lực tài chính dành cho việc mua sắm thiết bị thực hành và đổi mới giáo trình của học sinh bị thu hẹp đáng kể.

Vì sao tỷ lệ chi cho nghiên cứu khoa học tại các trường cao đẳng nghề vùng Tây Nguyên lại ở mức rất thấp? Kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học chỉ chiếm từ 0,1% đến 1,6% tổng chi (tương đương 30 đến 350 triệu đồng mỗi năm). Nguyên nhân là do các trường chưa có cơ chế khuyến khích giảng viên, thiếu sự gắn kết với nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp địa phương và nguồn thu tự tích lũy còn hạn hẹp.

Quy định trích lập nguồn cải cách tiền lương tại các trường cao đẳng nghề được thực hiện ra sao? Căn cứ theo quy định của Bộ Tài chính, các trường cao đẳng nghề thực hiện trích 40% từ chênh lệch thu lớn hơn chi của các hoạt động dịch vụ sự nghiệp và phần thu phí được để lại. Nguồn kinh phí này được quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo chi trả tiền lương tăng thêm khi nhà nước điều chỉnh mức lương cơ sở.

Giải pháp then chốt nào giúp các trường nghề giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước? Giải pháp đột phá là đẩy mạnh ký kết hợp đồng đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và mở rộng các dịch vụ tư vấn, chuyển giao công nghệ. Mục tiêu là từng bước nâng tỷ trọng nguồn thu tự tạo ngoài ngân sách lên trên 30% tổng nguồn thu trong lộ trình 3 đến 5 năm tới.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp công lập.
  • Chỉ rõ thực trạng phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước của 06 trường cao đẳng nghề Tây Nguyên với tỷ lệ cấp bù từ 48% đến 95%.
  • Nhận diện sự mất cân đối trong cơ cấu chi thường xuyên khi chi phí con người chiếm tới 61% - 85%, làm thu hẹp chi tiêu chuyên môn.
  • Phản ánh điểm nghẽn trong hoạt động nghiên cứu khoa học với mức đầu tư rất thấp, chỉ chiếm từ 0,1% đến 1,6% tổng chi.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp tài chính mang tính khả thi cao nhằm nâng cao mức độ tự chủ tài chính cho giai đoạn 2018 - 2020.

Luận văn là công trình nghiên cứu công phu, cung cấp luận cứ khoa học xác đáng cho quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính giáo dục nghề nghiệp tại Tây Nguyên. Các nhà quản lý và cơ quan ban ngành hãy tham khảo và ứng dụng ngay những đề xuất trong luận văn để nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và phát triển bền vững hệ thống đào tạo nghề.