Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước đối với Kinh tế tư nhân ở Nghệ An - Đặng Thị Thanh

Luận văn Quản lý nhà nước cho kinh tế tư nhân Nghệ An: Phân tích thực trạng, giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

89
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan vai trò quản lý nhà nước với kinh tế tư nhân Nghệ An

Luận văn "Quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân ở Nghệ An" cung cấp một cái nhìn toàn diện về sự tương tác giữa chính quyền và doanh nghiệp. Phân tích này không chỉ làm rõ cơ sở lý luận mà còn đi sâu vào thực tiễn, đánh giá vai trò của kinh tế tư nhân như một động lực tăng trưởng. Trọng tâm của nghiên cứu là xác định sự cần thiết và nội dung của công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Nghệ An, một yếu tố then chốt để định hướng khu vực này phát triển bền vững, phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Việc nhận diện đúng vai trò của nhà nước đối với kinh tế tư nhân là nền tảng để xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, khai thác tối đa tiềm năng và hạn chế các tác động tiêu cực. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sự can thiệp của nhà nước không phải là sự kìm hãm, mà là quá trình tạo lập hành lang pháp lý, hỗ trợ và định hướng, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cộng đồng.

1.1. Khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế

Kinh tế tư nhân (KTTN) được xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng, đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của tỉnh Nghệ An. Khu vực này có vai trò của kinh tế tư nhân nổi bật trong việc huy động các nguồn lực xã hội, từ vốn, công nghệ đến kinh nghiệm quản lý, vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự năng động của KTTN giúp tạo ra hàng hóa, dịch vụ đa dạng, đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời tạo ra áp lực cạnh tranh, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác, kể cả doanh nghiệp nhà nước, phải đổi mới và nâng cao hiệu quả. Theo luận văn, KTTN là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất, góp phần tăng thu nhập cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và ổn định xã hội. Sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) Nghệ An chính là minh chứng rõ nét cho sức sống của thành phần kinh tế này, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

1.2. Lý giải sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với KTTN

Sự tồn tại của KTTN là một tất yếu khách quan, tuy nhiên, hoạt động của khu vực này cũng tiềm ẩn những khuyết tật. Do chạy theo mục tiêu lợi nhuận tối đa, các doanh nghiệp tư nhân có thể có những hành vi tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh, trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường, hay vi phạm quyền lợi người lao động. Chính vì vậy, quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Nghệ An là cực kỳ cần thiết. Mục đích không phải để can thiệp sâu vào quyền tự do kinh doanh, mà để thiết lập một môi trường pháp lý cho kinh tế tư nhân công bằng, minh bạch. Nhà nước có vai trò định hướng sự phát triển của KTTN theo đúng quỹ đạo, phù hợp với chiến lược chung của tỉnh, hạn chế sự phát triển tự phát, manh mún và ngăn chặn các tác động tiêu cực đến xã hội. Quản lý hiệu quả sẽ giúp phát huy mặt tích cực và hạn chế tối đa mặt trái của kinh tế thị trường.

II. Phân tích thách thức quản lý nhà nước kinh tế tư nhân Nghệ An

Giai đoạn 2007-2013, công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Nghệ An đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng cũng bộc lộ nhiều thách thức và tồn tại. Luận văn đã chỉ ra những rào cản chính kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả quản lý. Các vấn đề nổi cộm bao gồm hệ thống chính sách chưa đồng bộ, thủ tục hành chính còn rườm rà, và sự phối hợp thiếu chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng. Tác động của chính sách công đến doanh nghiệp chưa thực sự tạo ra cú hích mạnh mẽ. Việc nhận diện rõ những hạn chế này là bước đi quan trọng để tìm ra các giải pháp cải thiện, hướng tới một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, nơi doanh nghiệp tư nhân có thể phát triển mạnh mẽ và đóng góp nhiều hơn cho kinh tế địa phương. Những thách thức này đòi hỏi một sự thay đổi toàn diện từ tư duy quản lý đến phương thức thực thi chính sách.

2.1. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân và những hạn chế

Mặc dù số lượng doanh nghiệp tư nhân tại Nghệ An tăng nhanh, thực trạng phát triển kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều hạn chế. Đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu, công nghệ lạc hậu và trình độ quản lý còn hạn chế. Điều này làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân trên thị trường. Luận văn chỉ rõ, "có đến 2.735 DN tạm ngừng kinh doanh" trong năm 2012 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, cho thấy sức chống chịu của khu vực này còn yếu. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa hiệu quả. Tình trạng một doanh nghiệp bị thanh tra, kiểm tra nhiều lần trong năm vẫn xảy ra, gây phiền hà và tốn kém chi phí. Công tác giám sát sau đăng ký kinh doanh còn lỏng lẻo, dẫn đến việc "hơn 1.100 doanh nghiệp vi phạm quy định về thuế" bị phát hiện, cho thấy những lỗ hổng trong quản lý.

2.2. Vướng mắc trong cải cách thủ tục hành chính và chính sách

Một trong những rào cản lớn nhất là công tác cải cách thủ tục hành chính. Luận văn nhấn mạnh những vướng mắc trong việc giao đất, cho thuê đất do chính sách đền bù giải phóng mặt bằng còn thấp, gây chậm trễ cho các dự án. Tình trạng "có DN đã đi vào hoạt động 02 năm nhưng chưa được cấp giấy CNQSD đất" gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn vay ngân hàng. Hơn nữa, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân Nghệ An dù đã được ban hành nhưng việc thực thi còn chậm và thiếu đồng bộ. Sự chồng chéo giữa các quy định, việc thiếu hướng dẫn cụ thể và sự thiếu thống nhất giữa các sở, ban, ngành đã làm giảm hiệu quả của chính sách. Điều này đòi hỏi phải có sự quyết tâm chính trị mạnh mẽ hơn nữa để thực sự cải thiện môi trường kinh doanh tỉnh Nghệ An một cách thực chất.

III. Bí quyết hoàn thiện chính sách quản lý KTTN tỉnh Nghệ An

Để vượt qua các thách thức, việc hoàn thiện hệ thống chính sách là giải pháp trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Nghệ An. Luận văn đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, tập trung vào việc xây dựng một hành lang pháp lý thuận lợi và các cơ chế hỗ trợ thực chất. Trọng tâm là phải tạo ra một sân chơi bình đẳng, minh bạch, nơi mọi doanh nghiệp đều có cơ hội tiếp cận nguồn lực và phát triển. Việc thiết kế các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân Nghệ An không chỉ dừng lại ở ưu đãi về thuế hay đất đai, mà còn cần tập trung vào hỗ trợ pháp lý, đào tạo nguồn nhân lực và xúc tiến thương mại. Mục tiêu cuối cùng là biến chính sách thành động lực thực sự, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh.

3.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho kinh tế tư nhân phát triển

Giải pháp nền tảng là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý cho kinh tế tư nhân. Điều này bao gồm việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và minh bạch. Cần cụ thể hóa thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan công quyền, tránh tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm. Đặc biệt, cần đơn giản hóa hơn nữa các thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký kinh doanh, cấp phép đầu tư, đất đai và xây dựng. Luận văn đề xuất cần có cơ chế giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Một khung pháp lý rõ ràng và ổn định là tiền đề quan trọng để thu hút đầu tư tư nhân vào Nghệ An và củng cố niềm tin của các nhà đầu tư.

3.2. Xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân hiệu quả

Bên cạnh khung pháp lý, cần xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân Nghệ An một cách cụ thể và thiết thực. Các chính sách này nên tập trung vào những điểm yếu của doanh nghiệp địa phương. Ví dụ, cần có chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các dự án khả thi; hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm. Luận văn đề cập đến các quyết định như Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND về khuyến khích đổi mới công nghệ là một hướng đi đúng đắn. Ngoài ra, cần đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ pháp lý, cung cấp thông tin thị trường, xúc tiến thương mại và kết nối kinh doanh. Việc tổ chức các lớp đào tạo nâng cao năng lực quản trị cho chủ doanh nghiệp cũng là một giải pháp quan trọng, giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) Nghệ An phát triển bền vững hơn.

IV. Phương pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cho SME Nghệ An

Nâng cao hiệu quả thực thi là yếu tố quyết định thành công của công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Nghệ An. Không chỉ dừng lại ở việc ban hành chính sách trên giấy, các cơ quan chức năng cần có những phương pháp quản lý khoa học, hiện đại và sát với thực tiễn. Điều này đòi hỏi phải nâng cao năng lực của bộ máy hành chính, tăng cường sự phối hợp liên ngành và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý. Vai trò của chính quyền địa phương từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã phải được phát huy mạnh mẽ trong việc đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước sẽ giúp tạo ra một môi trường quản lý năng động, linh hoạt, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, vừa khuyến khích được tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong cộng đồng doanh nghiệp.

4.1. Tăng cường năng lực bộ máy và vai trò chính quyền địa phương

Một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước là tập trung vào con người và tổ chức bộ máy. Cần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt và am hiểu về kinh tế thị trường. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý doanh nghiệp. Đồng thời, cần kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước theo hướng gọn nhẹ, hiệu lực, hiệu quả. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đặc biệt là tăng cường cơ chế phối hợp giữa các sở, ngành như Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Thuế, Công Thương. Vai trò của chính quyền địa phương cấp huyện, thành phố, thị xã cần được đề cao trong việc nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn, chủ động đối thoại và giải quyết kịp thời các kiến nghị, vướng mắc.

4.2. Sử dụng các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước hiệu quả

Nhà nước cần vận dụng linh hoạt và hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước để điều tiết và định hướng khu vực KTTN. Các công cụ này bao gồm quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chính sách tài khóa (thuế, chi ngân sách), chính sách tiền tệ (lãi suất, tín dụng), và các công cụ hỗ trợ trực tiếp khác. Ví dụ, thông qua quy hoạch, nhà nước có thể định hướng doanh nghiệp đầu tư vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên của tỉnh. Thông qua chính sách thuế, nhà nước có thể khuyến khích các hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, ứng dụng công nghệ cao. Công tác thanh tra, kiểm tra cần được đổi mới theo hướng giảm thiểu phiền hà, tập trung vào hậu kiểm và dựa trên nguyên tắc quản lý rủi ro, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động ổn định.

V. Tác động thực tiễn Quản lý nhà nước thúc đẩy KTTN Nghệ An

Việc áp dụng các giải pháp quản lý nhà nước đã tạo ra những tác động thực tiễn rõ rệt đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân tại Nghệ An. Những kết quả đạt được là minh chứng cho thấy khi có một cơ chế quản lý phù hợp, khu vực KTTN sẽ phát huy được vai trò động lực của mình. Sự tăng trưởng về số lượng và quy mô của doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) Nghệ An, cùng với những đóng góp quan trọng vào ngân sách và giải quyết việc làm, đã khẳng định hướng đi đúng đắn trong công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Nghệ An. Việc phân tích các kết quả này không chỉ để ghi nhận thành tựu mà còn để rút ra bài học kinh nghiệm, xác định những điểm cần tiếp tục cải thiện để quá trình hỗ trợ và quản lý ngày càng hiệu quả hơn, góp phần thu hút đầu tư tư nhân vào Nghệ An mạnh mẽ hơn trong tương lai.

5.1. Phân tích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ SME

Luận văn cung cấp số liệu cụ thể cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) Nghệ An. Giai đoạn 2006 - 2013, có 5.268 doanh nghiệp được thành lập mới. Vốn đầu tư bình quân trên một doanh nghiệp cũng tăng từ 3,6 tỷ đồng năm 2010 lên 4,56 tỷ đồng năm 2013. Đặc biệt, khu vực KTTN đóng vai trò chủ lực trong việc tạo việc làm. Đến năm 2013, khu vực DNNVV đã thu hút hơn 124,5 nghìn lao động, chiếm 79,7% tổng lao động trong khu vực doanh nghiệp của tỉnh. Những con số này phản ánh tác động của chính sách công đến doanh nghiệp đã bắt đầu phát huy hiệu quả. Sự gia tăng cả về lượng và chất của các doanh nghiệp tư nhân đã làm cho nền kinh tế địa phương trở nên năng động và đa dạng hơn.

5.2. Đánh giá hiệu quả thu hút đầu tư tư nhân vào Nghệ An

Những nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh tỉnh Nghệ An đã góp phần nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư tư nhân vào Nghệ An. Việc ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư thông thoáng như Quyết định số 101/2007/QĐ-UBND đã tạo sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Các dự án đầu tư của tư nhân không chỉ tập trung ở các lĩnh vực truyền thống như thương mại, dịch vụ mà đã bắt đầu mở rộng sang các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch. Mặc dù vẫn còn những khó khăn trong giải phóng mặt bằng hay hạ tầng, nhưng những kết quả ban đầu là rất đáng khích lệ. Dòng vốn đầu tư tư nhân đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách và tạo ra một diện mạo mới cho kinh tế - xã hội của tỉnh.

VI. Định hướng tương lai quản lý nhà nước kinh tế tư nhân Nghệ An

Trên cơ sở phân tích thực trạng và kết quả, luận văn đã đưa ra những định hướng phát triển kinh tế tư nhân cho tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Tương lai của công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Nghệ An sẽ tập trung vào việc kiến tạo một môi trường phát triển thuận lợi, bình đẳng và bền vững. Mục tiêu không chỉ là gia tăng số lượng doanh nghiệp mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân. Điều này đòi hỏi sự tiếp tục đổi mới mạnh mẽ trong tư duy và hành động của các cấp chính quyền, xem doanh nghiệp là đối tác đồng hành trong quá trình phát triển. Việc hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả thực thi và tăng cường đối thoại sẽ là những ưu tiên hàng đầu để đưa kinh tế tư nhân Nghệ An bước vào một giai đoạn phát triển mới, mạnh mẽ và hiệu quả hơn.

6.1. Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế tư nhân đến 2020

Luận văn vạch ra định hướng phát triển kinh tế tư nhân với các mục tiêu cụ thể. Trong đó, nhấn mạnh việc khuyến khích KTTN phát triển ở mọi ngành nghề mà pháp luật không cấm, đặc biệt là các lĩnh vực có lợi thế của tỉnh như công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, du lịch, dịch vụ và công nghệ cao. Mục tiêu là phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, hình thành một đội ngũ doanh nhân có năng lực, trình độ và văn hóa kinh doanh. Nhà nước sẽ tiếp tục giữ vai trò kiến tạo, định hướng, hỗ trợ thông qua các quy hoạch, kế hoạch và chính sách, đảm bảo sự phát triển của KTTN hài hòa với mục tiêu phát triển bền vững chung. Sự phát triển này phải gắn liền với trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật, đưa KTTN thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.

6.2. Kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp tư nhân

Để thực hiện các định hướng trên, một trong những kiến nghị cốt lõi là tập trung vào các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân. Về phía nhà nước, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính một cách triệt để, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh. Cần có các chương trình hỗ trợ cụ thể để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và xây dựng thương hiệu. Về phía doanh nghiệp, cần chủ động nâng cao năng lực quản trị, đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường liên kết, hợp tác để tạo ra sức mạnh chung. Các hiệp hội doanh nghiệp cần phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và chính quyền, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên và thúc đẩy văn hóa kinh doanh có trách nhiệm. Sự cộng hưởng giữa nỗ lực của nhà nước và doanh nghiệp sẽ là chìa khóa thành công.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân ở nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về kinh tế tƣ nhân và quản lý nhà nƣớc đối với kinh tế tƣ nhân. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Nghệ An và những vấn đề đặt ra. Chương 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Nghệ An đến năm 2020. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TƢ NHÂN 1.

Một số vấn đề cơ bản về kinh tế tƣ nhân 1. Quan niệm chung về kinh tế tư nhân Theo C.Mác, quan hệ sở hữu đối với tƣ liệu sản xuất có vai trò phản ánh đặc trƣng của các hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng nhƣ hình thức tổ chức kinh tế nói riêng, nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và phân phối kết quả sản xuất. Nhƣ vậy, có thể nhận thức rằng KTTN đƣợc đặc trƣng bởi sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất. Mặc dù trong các tài liệu nghiên cứu của Mác và Lê Nin không sử dụng thuật ngữ KTTN, nhƣng các ông lại thƣờng đề cập đến các thuật ngữ sở hữu tƣ nhân, sở hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa, lao động tƣ nhân.

Nói KTTN TBCN chính là C.Mác nói đến một hình thức phát triển của KTTN trong thời đại TBCN. Trong các văn kiện của Đảng ta, KTTN thƣờng đƣợc hiểu là một thành phần kinh tế. Chẳng hạn Nghị quyết 16 của Bộ chính trị (1988) và Nghị quyết hội nghị Trung ƣơng lần thứ sáu (khoá VI) nêu quan niệm: KTTN là đơn vị kinh tế do những ngƣời có vốn, có tài sản lập ra, sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, bao gồm các hình thức xí nghiệp tƣ doanh, công ty hợp doanh, công ty cổ phần. Trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, KTTN đƣợc hiểu bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân.

Trong văn kiện có đoạn viết: “Kinh tế tƣ nhân đƣợc phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý hƣớng dẫn của Nhà nƣớc, trong đó kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tƣơng đối rộng lớn ở những đơn vị chƣa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hƣớng kinh tế tƣ bản tƣ nhân phát triển theo con đƣờng tƣ bản nhà nƣớc dƣới nhiều hình thức [12, tr. Cách hiểu này đƣợc căn cứ vào tính chất của quan hệ sở hữu đối với tƣ liệu sản xuất và vốn. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan niệm nhƣ trên cũng đƣợc ghi trong luật pháp và chính sách của Nhà nƣớc ta. Chẳng hạn, Hiến pháp năm 1992 quy định chế độ sở hữu ở Việt Nam bao gồm ba hình thức cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tƣ nhân.

Trên cơ sở chế độ sở hữu đó, nền kinh tế có các thành phần cơ bản là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tƣ bản tƣ nhân và kinh tế tƣ bản nhà nƣớc [15]. Nghị định 27-HĐBT của Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Chính phủ) về Chính sách đối với kinh tế tƣ doanh và cá thể cũng có quan niệm tƣơng tự nhƣ trong Hiến pháp năm 1992. Báo cáo của Ngân hàng thế giới đã đồng nhất KTTN với khu vực kinh tế phi nhà nƣớc, “bao gồm cả các doanh nghiệp tƣ nhân thật sự, các hợp tác xã và các doanh nghiệp trong đó nhà nƣớc hay doanh nghiệp nhà nƣớc có sở hữu dƣới 50% [20, tr. Trong các nhà nghiên cứu cũng có những ý kiến khác nhau về KTTN: - Loại ý kiến thứ nhất cho rằng KTTN là hình thức kinh tế dựa trên sở hữu toàn bộ hay đại bộ phận tƣ liệu sản xuất thuộc về tƣ nhân và lao động làm thuê, ngƣời chủ chiếm đoạt giá trị thăng dƣ do công nhân sáng tạo ra [21, tr.

Về hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, KTTN bao gồm doanh nghiệp tƣ nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần (do tƣ nhân nắm tỷ lệ cổ phiếu khống chế). Quan niệm KTTN nhƣ vậy đã không bao gồm các cơ sở kinh tế cá thể. Trong các thuộc tính để xác định KTTN, ngoài quan niệm sở hữu đối với tƣ liệu sản xuất còn có các quan niệm về thuê mƣớn lao động, có bóc lột. - Loại ý kiến thứ hai cho rằng “KTTN gồm các đơn vị kinh tế mà phần lớn vốn do một hoặc một số tƣ nhân góp lại, huy động cổ phần (nhƣng do một hay một nhóm tƣ nhân nắm cổ phiếu khống chế, chi phối), thuê lao động sản xuất kinh doanh” [21, tr.

Những ngƣời theo loại ý kiến này cho rằng không nên phân biệt tƣ nhân với cá thể vì không thể lấy tiêu chuẩn có tham gia lao động trực tiếp hay không bóc lột. Ngoài ra, lý do chính mà trƣớc đây cần có sự phân biệt nhƣ vậy là để “cải tạo tƣ sản” và phân biệt đối xử trong 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính sách, nhƣng hiện nay nhƣ vậy là không có lợi. Hơn nữa cơ sở để xác định KTTN hay loại hình kinh tế nào không chỉ căn cứ vào sở hữu tƣ liệu sản xuất, mà còn phải tính đến cả sở hữu vốn và tài sản kể cả những thứ chƣa thành tƣ liệu sản xuất nhƣng có thể đƣa vào sản xuất [21, tr. - Loại ý kiến thứ ba cho rằng, KTTN bao gồm các công ty, doanh nghiệp tƣ nhân và các cơ sở kinh tế cá thể.

Nó còn bao gồm cả các hợp tác xã do tƣ nhân đội lốt, các doanh nghiệp có vốn nƣớc ngoài [14, tr.3 - 6], hoặc bao gồm kinh tế gia đình, tiểu chủ và tiểu tƣ nhân có phân biệt theo giá trị tài sản và số lao động làm thuê [4, tr. Nghĩa là, KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế dựa trên sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất hoặc sở hữu tƣ nhân chiếm ƣu thế, không bao gồm các hợp tác xã đích thực. - Loại ý kiến thứ tƣ, KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế ngoài kinh tế nhà nƣớc (kể cả hợp tác xã và kinh tế gia đình) [19, tr. - Loại ý kiến thứ năm lại coi KTTN là một khu vực, bao gồm các tổ chức kinh tế mà sở hữu tƣ nhân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của chúng do một hoặc một nhóm tƣ nhân tổ chức và quản lý [17, tr.

Nhƣ vậy, việc xác định KTTN ở đây ngoài yếu tố cơ bản là sở hữu về tƣ liệu sản xuất (hoặc vốn) còn có cả yếu tố quản lý và tổ chức. Những ý kiến trên đã không thống nhất về quan niệm KTTN, tiêu thức xác định KTTN chƣa rõ ràng và chƣa nhất quán. Nếu lấy sở hữu tƣ nhân làm cơ sở để xác định KTTN thì tại sao trong loại hình kinh tế này lại có cả kinh tế tƣ nhân cá thể và các hợp tác xã (trong khi Hiến pháp năm 1992 lại quy định nƣớc ta có ba hình thức sở hữu: toàn dân, tập thể và tƣ nhân). Nếu căn cứ vào tiêu chí có bóc lột ngƣời lao động hay không bóc lột để phân biệt KTTN và kinh tế cá thể, thì ai dám khẳng định rằng các cơ sở kinh tế cá thể có hàng chục, thậm chí hàng trăm lao động nhƣ hiện nay là không bóc lột.

Ở đây khó có thể xác định một cách chính xác khu vực KTTN do hiện tƣợng tƣ nhân núp bóng khu vực nhà nƣớc, mƣợn tên doanh 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp nhà nƣớc, xây dựng các “sân sau” bên cạnh các doanh nghiệp nhà nƣớc, trốn tránh việc đăng ký kinh doanh, hoặc tƣ nhân đội lốt tập thể dƣới dạng các “tổ hợp” và đội lốt hộ gia đình. Trong tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở nƣớc ta hiện nay, có những doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài, doanh nghiệp liên doanh., nó không chỉ bao gồm các chủ đầu tƣ là tƣ bản tƣ nhân mà còn có cả các chủ là nhà nƣớc ở các nƣớc Tƣ bản và các nƣớc Xã hội chủ nghĩa. Do vậy không nên liệt kê các doanh nghiệp loại này vào KTTN. Đại hội IX của Đảng ta năm 2001 đã xác định các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là một thành phần kinh tế gọi là kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.

Sự xác định nhƣ vậy là đúng chứ không nên xếp chúng vào khu vực KTTN. Do sự thiếu rõ ràng, nhất quán trong nhận thức nhƣ trên, nên trong tổ chức thực tiễn khu vực KTTN còn gặp không ít khó khăn, lúng túng, kém hiệu quả. Hiện nay, ở hầu hết các nƣớc trên thế giới, nền kinh tế đƣợc phân chia thành hai khu vực chủ yếu là khu vực KTTN và khu vực kinh tế nhà nƣớc. Khu vực kinh tế nhà nƣớc do nhà nƣớc là chủ sở hữu (hoặc có tỷ lệ cổ phần khống chế) nên nhà nƣớc có thể chi phối và kiểm soát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Khu vực KTTN là phần còn lại ngoài khu vực nhà nƣớc. Nền kinh tế của Trung Quốc hiện nay cũng đƣơc chia ra thành hai khu vực: khu vực kinh tế công hữu (gồm kinh tế quốc hữu và kinh tế tập thể) và kinh tế phi công hữu (bao gồm KTTN và kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài); tức là KTTN là một khu vực kinh tế phi công hữu. Những sự phân chia trên chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu tƣ liệu sản xuất và vốn. Trong nền kinh tế các nƣớc hiện nay, sự đan xen sở hữu khu vực kinh tế nhà nƣớc và KTTN làm cho sự phận loại thêm phức tạp.

Trong các công ty hỗn hợp, khu vực tƣ nhân đƣợc xác định dựa vào tỷ lệ vốn khống chế thuộc về tƣ nhân. Tỷ lệ vốn đó tuỳ thuộc vào điều kiện mỗi nƣớc và có thể dao động từ 18 - 40%, không nhất thiết phải trên 50%. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Qua những phân tích trên, căn cứ vào quá trình ra đời và phát triển của quan hệ sản xuất theo đó là quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm, căn cứ vào quan niệm của Đảng ta về kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần, có thể hiểu KTTN là loại hình kinh tế ra đời và phát triển trên cơ sở chế độ sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất và vốn, tồn tại dƣới nhiều hình thức tổ chức khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu mà nó đại diện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ