Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng chính sách xã hội. Thực trạng phát triển hoạt động cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng chính sách xã hội Chi nhánh Hà Nội. Giải pháp phát triển hoạt động cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng chính sách xã hội Chi nhánh Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Tổng quan về việc làm và giải quyết việc làm 1. Khái niệm việc làm trong nền kinh tế - xã hội Trong nền kinh tế - xã hội hiện nay, mọi cá nhân có sức lao động đều có quyền có việc làm. Đó là một trong những quyền cơ bản nhất của con người đã được khẳng định trong hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Việc làm là nhu cầu, quyền lợi nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm của con người. Việc làm là các hoạt động lao động, tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập và là dạng hoạt động của mỗi cá nhân nhưng lại luôn gắn liền với xã hội và được xã hội công nhận. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm việc làm: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật”. “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm” (Điều 9 Bộ Luật lao động, Quốc hội, 2019).
“Người có việc làm là người làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp một phần cho xã hội” (PGS. Nguyễn Hữu Dũng- Trần Hữu Trung, 2002). Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về việc làm, mỗi quốc gia, lãnh thổ khác nhau đưa ra những nhận định, khái niệm riêng về việc làm. Tuy nhiên có thể hiểu khái quát về khái niệm việc làm là: - Hoạt động lao động: việc làm thể hiện sức lao động của con người vào tư liệu sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế - xã hội.
Hoạt động này có tính hệ thống, thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy, người có việc làm cần có kỹ năng, trình độ chuyên môn nhất định để có thể hoàn thành các công việc. - Hoạt động tạo ra thu nhập: thông qua việc làm người lao động nhận khoản thu nhập tương ứng với sức lao động của mình. 9 - Hoạt động phải hợp pháp: đối với hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm.
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lý của việc làm. Có thể thấy trong nền kinh tế - xã hội, việc làm có vai trò quan trọng, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội. Đối với từng cá nhân, việc làm đem lại nguồn thu nhập để nuôi sống và thỏa mãn nhu cầu bản thân, ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của họ.
Vì vậy, việc làm là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển kinh tế. Phân tích động thái thay đổi của việc làm cho phép đánh giá tác động của chuyển đổi kinh tế và đề xuất các chính sách việc làm phù hợp tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một quốc gia. Khái niệm giải quyết việc làm trong nền kinh tế - xã hội Xác định được việc làm có tác động quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, đồng nghĩa với việc cần hiểu rõ về giải quyết việc làm và có những chính sách, biện pháp giải quyết vấn đề việc làm, nhằm đạt được các mục tiêu quốc gia về phát triển đất nước, con người, kinh tế, chính trị. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản.
Bằng nhiều biện pháp tạo ra việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng nhất là trong nông nghiệp, nông thôn. Các thành phần kinh tế mở mang ngành nghề, cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động; Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động, phòng tránh tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động; Khôi phục và phát triển các làng nghề. sớm xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ cấp cho người lao động thất nghiệp”. 10 Từ những quan điểm, định nghĩa về việc làm có thể thấy việc giải quyết việc làm là rất cần thiết, được coi là nhiệm vụ quan trọng trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giải quyết việc làm là chính sách cơ bản của đất nước nhằm phát triển bền vững vì con người.
Tùy thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà đưa ra những khái niệm về giải quyết việc làm: - Giải quyết việc làm là hoạt động giúp người lao động có được công việc cụ thể và tạo thu nhập cho họ mà không bị pháp luật cấm. Người tạo cơ hội việc làm cho người lao động có thể là Chính phủ thông qua các chính sách, hoặc các tổ chức kinh tế (công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh .) và các cá nhân thông qua hoạt động tuyển dụng. - Giải quyết việc làm là quá trình tạo môi trường để hình thành việc làm và bố trí người lao động phù hợp vào nơi làm việc để có môi trường làm việc chất lượng cao, bảo đảm nhu cầu việc làm của người lao động và người sử dụng lao động, đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước. - Giải quyết việc làm là tập hợp các biện pháp, chính sách kinh tế - xã hội do nhà nước, xã hội và bản thân người lao động, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để bảo đảm phúc lợi của mọi người, tạo điều kiện cho mọi người có khả năng lao động và tìm việc làm.
Vai trò của giải quyết việc làm trong xã hội hiện nay Một trong những nguồn lực chính trong phát triển kinh tế là lao động. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng sử dụng hiệu quả nguồn lao động sẵn có của mình. Điều này một phần do nguyên nhân khách quan đặc thù của từng quốc gia, một phần do chính sách, thể chế của Chính phủ và nguyên nhân chủ quan về trình độ, chất lượng của lực lượng lao động. Ở các nước phát triển, do có tiềm lực tài chính tốt nên những người không có việc làm nhận được trợ cấp, hỗ trợ từ Chính phủ.
Điều này tạo điều kiện cho người lao động thất nghiệp có thể tự đảm bảo một phần cho cuộc sống. Tuy nhiên, tại các nước kém phát triển và đang phát triển, nền kinh tế không ở vị thế đủ tốt để đảm bảo mức trợ cấp tối thiểu cho người thất nghiệp. Những người thất nghiệp rơi vào cảnh 11 nghèo và chất lượng cuộc sống của họ giảm sút, dẫn đến suy thoái kinh tế. Hậu quả tiêu cực do không có việc làm khiến tệ nạn xã hội gia tăng, đói nghèo, dịch bệnh, chiến tranh.
Do vậy, việc tập trung tìm mọi biện pháp để giải quyết tình trạng thất nghiệp đã và đang trở thành vấn đề quan trọng và cần thiết đối với bất cứ quốc gia nào. Điều đó không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt là tạo ra công ăn việc làm cho những lao động thất nghiệp để nuôi sống bản thân và gia đình mà còn mang ý nghĩa lâu dài đối với nền kinh tế. - Đối với người lao động: Giải quyết việc làm giúp người lao động có việc làm và tạo ra thu nhập đảm bảo cho cuộc sống mỗi cá nhân, nguồn lực kinh tế phát triển, giảm tỷ lệ thất nghiệp, từ đó hạn chế tác động tiêu cực của tình trạng thiếu việc làm. Giải quyết việc làm góp phần đảm bảo ổn định, an toàn và công bằng xã hội.
Thể hiện vai trò của xã hội đối với người lao động, phản ánh sự quan tâm của xã hội đối với đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, đồng thời là cầu nối giữa xã hội với con người. Giải quyết việc làm là chính sách cơ bản của đất nước nhằm đạt được sự phát triển bền vững của người dân. Đối với một quốc gia, chính sách đúng đắn là phát huy tối đa năng lực của người lao động. Vì vậy, giải quyết được vấn đề về lao động, việc làm là thành công lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và chính trị của đất nước.
- Đối với nền kinh tế: Việc làm xuất phát từ chính nhu cầu thị trường, tạo ra các cơ hội việc làm cho người lao động, đặc biệt tại những quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển có nguồn lao động trẻ dồi dào sẽ là thị trường tiềm năng thu hút đầu tư, có nhiều triển vọng về việc làm. Khi người lao động có môi trường làm việc tốt, tạo ra thu nhập đảm bảo cho cuộc sống cá nhân, đồng thời tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân. Khi đó, nền kinh tế muốn phát triển tốt thì luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân, duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động.