phần mở đầu, kết luận và đanh mục tải liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương như sau: Chương | Cơ sở lý luận va tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3 Thực trạng hoạt động cho vay mua nhà đất tại VIB Mỹ Đình Chương 4 Một số giải pháp, kiến nghị và kết luận CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN TINH HÌNH NGHIEN CUU Trong chương này luận văn sẽ trình bay hai van dé chính, do là: Ly thuyêt về các vân đê cân nghiên cứu và Tông quan tình hình nghiên cứu. Cơ sở lý luận Hiện nay, có rất nhiều ngân hàng thương mại cô phần (TMCP) tại Việt Nam, trong đó có VIB đã chia bộ phận kinh doanh thành hai khối là: Khối ngân hàng bán lẻ (NHBL) và Khối ngân hàng doanh nghiệp đề chuyên biệt hóa trong hoạt động kinh doanh. Về cấu trúc thì sản pham Cho vay mua nha đất là một sản phẩm tín dụng cá nhân tiêu dùng của khối NHBL. Do đó luận văn sẽ trình bày các lý thuyết sau: - Khái niệm, đặc điểm cho vay tiêu dùng và các hình thức cho vay tiêu dùng.
- Khái niệm, đặc điểm cho vay mua nhà đất. - Ưu điểm, nhược điểm của sản pham cho vay mua nhà đất so với các sản phâm cho vay tiêu dùng khác. - Các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay mua nhà đất. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức cho vay tiêu dùng 1.
Khái niệm cho vay tiêu dùng Theo tác giả Dinh Xuân Hang và Nguyễn Văn Lộc (2012, trang 189) thì cho vay tiêu dùng là việc ngân hàng chuyền quyền sử dụng vốn cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình trong một khoảng thời gian nhất định và kèm chỉ phí nhằm tài trợ tài chính dé đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như: Mua, xây dựng, sửa chữa nhà, đất, mua sam đồ đạc gia đình, phương tiện đi lại, chỉ cho giáo dục, y tế, du lịch, cưới hỏi. Từ định nghĩa trên, cho vay tiêu dùng có thể hiểu một cách đơn giản là việc ngân hang cấp vôn cho khách hàng hàng là cá nhân, hộ gia đình dé chỉ tiêu cho các nhu câu của cuộc sông và không nhắm mục đích sinh lời. Đặc diém cho vay tiêu dùng Theo tác giả Đinh Xuân Hạng và Nguyễn Văn Lộc (2012, trang 190): Cho vay tiêu dùng có một số đặc trưng riêng, nhưng về cơ bản bao gồm 4 đặc điểm như sau: - Đặc điểm thứ nhất: Giá trị của các khoản vay tiêu dùng thường rất nhỏ (nếu so sánh với các khoản vay của các công ty, doanh nghiệp) nhưng số lượng các khoản vay lại lớn, nhiều khoản vay chỉ có trị giá 5.000 VND như vay thấu chi tai khoản hoặc thẻ tin dụng quốc tế. Cho vay tiêu dùng có thé đáp ứng nhu cầu của rất nhiều phân khúc khách hàng, từ những người có thu nhập thấp đến những người giau có.
- Đặc điểm thứ hai: Người vay tiêu dùng kém nhạy cảm với lãi suất nhưng lại nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế. Các khoản vay tiêu ding có giá trị nhỏ nên khi lãi suất thay đổi không gây ra nhiều tác động đến quyết định vay vốn nhưng khi nền kinh tế phát triển hay suy thoái lại tác động gián tiếp đến thu nhập của khách hàng và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ. - Đặc điểm thứ ba: Chi phí cho khoản vay lớn hơn nhiều so với các khoản vay của các doanh nghiệp bởi các khoản vay tiêu dùng có giá trị nhỏ, số lượng khoản vay lớn và nằm rải rác trên nhiều địa bàn cho nên cần nhiều nhân lực, tài nguyên dé quản lý. Bên cạnh đó, ngoai việc thu được lãi suất cho vay tiêu dùng đối với khách hàng thì gần như ngân hàng không khai thác được thêm các loại phí phi tín dụng khác nếu so với các khách hàng doanh nghiệp.
Mặt khác, các khoản vay tiêu dùng thường có thời gian cho vay trung hoặc dài hạn (từ trên 12 — 240 tháng), khó quản lý về mặt tài chính (nguồn thu của khách hàng có nhiều khả năng biến động trong thời gian vay vốn) và khó kiểm soát mục đích sử dụng vốn của khách hàng sau khi giải ngân, hơn nữa phần lớn khả năng trả nợ lại phụ thuộc vào ý chí, thái độ của khách hàng vay vốn do đó rủi ro về khả năng trả nợ cao. - Đặc điểm thứ tư: Tư cách của khách hàng và gia đình khách hàng vay vốn là yêu tô định tính quan trọng hàng đầu nhưng lại là thông tin khó đánh giá đối với ngân hàng bởi các thông tin cá nhân rất khó xác định trong khoảng thời gian ngắn khi không có đầu mối hoặc cơ sở dé khai thác. Người vay vốn thường cung cấp các thông tin tốt về bản thân cho ngân hàng và hạn chế tối đa việc dé lộ thông tin bất lợi cho ngân hàng biết, trong khi đó ngân hàng chỉ khai thác được số lượng hạn chế thông tin về khách hàng. Đối với các thông tin định lượng như tai chính, tài sản của khách hàng đôi khi chỉ là các thông tin làm đẹp hồ sơ vay vốn nhưng thực chat không phản ánh đúng tiềm lực của khách hàng cũng như ý chí, khả năng trả nợ cho ngân hàng.
Vì vậy, tư cách khách hàng luôn là một yếu tố quan trọng trong quá trình tham định, xét duyệt hồ sơ cho vay. Các hình thức cho vay tiêu dùng Từ ý kiến của tác giả Đinh Xuân Hạng và Nguyễn Văn Lộc (2012, trang 191), cho vay tiêu dùng có thé phân thành 4 nhóm chính sau: e _ Căn cứ vào phương thức trả nợ Cho vay tiêu dùng có thể phân thành ba loại như sau: - Cho vay tiêu dùng trả góp Là hình thức cho vay mà người vay phải thanh toán tiền gốc, lãi cho ngân hàng nhiều lần theo các mốc thời gian nhất định trong khoảng thời gian vay von (thông thường thanh toán theo các tháng, quý, hoặc 6 tháng/lần). Thời gian và số tiền trả nợ mỗi kỳ được tính toán dự trên thu nhập của người trả nợ để bảo đảm răng thu thập của mỗi kỳ trả nợ đảm bảo khả năng thanh toán cao nhất đối với số tiền gốc, lãi phải trả, thời gian cho vay trả góp thường lớn hơn 12 tháng. - Cho vay tiêu dùng phi trả góp Đây là các khoản cho vay mà số tiền gốc, lãi được thanh toán một lần khi đến hạn do đó các khoản cho vay này thường có giá trị nhỏ, thời gian vay ngắn (thường dưới 12 tháng).
- Cho vay tiêu dùng tuần hoàn (hạn mức) Đây là các khoản cho vay mà khách hàng được cấp một hạn mức nhất định và có thể vừa chỉ tiêu và đồng thời thanh toán nợ cho ngân hàng trong khoảng thời gian và hạn mức tín dụng đã được cấp. e Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ Cho vay tiêu dùng phân thành hai loại như sau: - Cho vay tiêu dùng gián tiếp Đây là phương thức cho vay mà ngân hàng nhận lại các khoản nợ do các công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa cho khách hàng từ trước đó. Phương thức này rất ít được áp dụng tại Việt Nam và khó áp dụng đối với các khoản cho vay mua nhà đất bởi có tính phức tạp rất cao. - Cho vay tiêu dùng trực tiếp Đây là phương thức cho vay mà ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với người vay vôn từ đầu quá trình.
Ngân hàng trực tiếp quản lý, thu nợ từ khách hàng sau khi khoản vay được giải ngân. e Căn cứ vào mục đích vay vốn Cho vay tiêu dùng phân thành hai loại như sau: - Cho vay tiêu dùng cư trú Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu liên quan đên bât động sản, nơi ăn chôn ở của người tiêu dùng. - Cho vay tiêu dùng phi cư trú Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu liên quan đến dịch vụ và mua bán động sản của người tiêu dùng, thường là các khoản cho vay mua phương tiện đi lại như ôtô, xe máy, cho vay mua sắm đồ đạc, cho vay du học, cho vay khám chữa bệnh, cho vay cưới hỏi. e Căn cứ vào tai sản bảo đảm Cho vay tiêu dùng phân thành hai loại như sau: - Cho vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng sẽ nhận một hoặc nhiều tài sản của người vay vốn hoặc tài sản từ bên thứ ba (hay còn gọi là bên bảo lãnh) làm tài sản thế chấp, bảo đảm cho việc sử dụng vốn của người đi vay.
- Cho vay tiêu dùng tín chấp (không có tài sản bảo đảm) Đây là hình thức cho vay mà người đi vay không cần thế chấp bất cứ tài sản nào cho ngân hàng. Các phương thức tính lãi cho vay tiêu dùng Trong hoạt động cho vay tiêu dùng có một số phương thức tính lãi sau thường được áp dụng: e Phương thức tính lãi theo dư nợ thực tế Với phương thức tính lãi này, hàng kỳ khách hàng hoàn trả một số tiền gốc cô định, băng số tiền cho vay chia cho số kỳ trả nợ. Tiền lãi được hoàn trả hang kỳ tính trên số du nợ thực tế và số ngày thực tế sử dụng vốn vay. Phương thức trả nợ này có đặc điểm là với lãi suất cho vay không thay đổi hoặc ít có sự biến động thì cảng về các kỳ trả nợ sau số tiền trả nợ (gốc + lãi) càng giảm vi số tiền lãi giảm trong khi số tiền gốc van không đổi.
Phương thức nay cũng được áp dụng phổ biến tại các ngân hàng. e _ Phương thức tính lãi theo số tiền cho vay Phương thức tính lãi theo số tiền cho vay (còn gọi là Add-on): Hàng kỳ, khách hàng hoàn trả một số tiền có định bao gồm cả gốc và lãi, được tinh theo công thức: Số tiền vay + (Số tiền vay x Lãi suất vay x Số kỳ) Số tiền trả hàng kỳ = ------------------------------------------------------------ Số kỳ Khi quy đôi từ lãi suất add-on ra lãi suất theo dự nợ thực tế thì lãi suất thu được sẽ lớn hơn rất nhiều so với lãi suất add-on ban đầu, bởi khi áp dụng cách tính lãi suất add-on thì tiền lãi được tính gộp cho toàn bộ gốc vay. Vì vậy, đây là phương thức tính lãi thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị nhỏ.