chương 1, luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ được Quốc hội nước Công hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngảy 15 tháng 6 năm 2004, trẻ em lả tat cả những người dưới 16 tuổi. Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Trong giới hạn phạm vi đề tải nghiên cứu của mình, tôi quan niệm trẻ em không chỉ là những người đưới 16 tuổi mả còn lả một thành viên trong gia đỉnh cỏ ảnh hưởng. tới bàu không khí tâm lý của gia đình một cách rõ rảng, 1.
Đặc trưng phát triển tâm vận động của trẻ từ 0 -36 tháng. Đặc trưng quan trọng của lửa tuôi này là phát triển vận động đề phát triển tâm lý. Các nghiên cửu đã chỉ ra rằng phan lớn các trẻ 3 tháng tuổi đã có thẻ biết lẫy, 7 tháng đã có thể biết bỏ, 9 tháng tập đi, 12 tháng có thẻ tự đi được 5m, 15 tháng chạy chúi đầu vẻ phía trước. tương ứng với các phản xạ tâm lý như: Vung tay, đạp chân khi được người thân nói chuyện, trẻ phát ra những âm thanh ban dau (u, a.) khi duge người lớn nói chuyên.
Trẻ học được cách ứng xử với người khác khi bị ướt, khi bị đỏi, khi bị bỏ rơi và người lớn cũng dân học được cách chăm sóc trẻ tốt hơn. Việc choi đủa tương tác với trẻ giai đoạn nay có ý nghĩa quyết định giúp trẻ phát triển vận động và phát triển tâm lý của mình, tạo nên mỏng cho sự phát triển tâm lý sau nảy của trẻ. Trong giai đoạn sơ sinh (từ 0 đến 24 tháng tuổi), song song với việc phát triển về thể chất, trẻ phát triển về vận động vả phản xạ, tử cảm giác đến trí giác và đàn học được cách biểu hiện xúc cảm của mình khi tương tác với người chăm sóc. Giai đoạn quan trọng nảy giúp trẻ phát triển nhận thức ban đầu về môi trường xung quanh.
Đặc biết, lúc này trẻ học được tử xã hội ngôn ngữ giao tiếp ban đầu và thâm nhập vào tiền trình xã hội hóa cá nhân của mình. Nếu thiêu vắng giao tiếp phù hợp trong giai đoạn nảy, trẻ ở giai đoạn sau thường lộ rõ những khỏ khăn về tâm lý, chẳng hạn như rồi loạn cảm giác, rồi loạn ý thức, rồi loạn ngôn ngữ. Đông thời, việc thiêu vắng đi những hoạt động vui chơi, hoạt động chăm sóc cỏ kèm theo sử dụng ngôn ngữ của 10 người chăm sóc trong giai doan tir 0 — 24 thang sé khién tré 16 dan khả năng kém hòa nhập của minh với môi trường xung quanh khi trẻ bước sang giai đoạn sau (Nguyễn Văn Đông, 2004) Cũng trong giai đoạn sơ sinh, các nhà nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lý trẻ em đặc biệt chủ tâm đến phát triển nhận thức vả ngôn ngữ cho trẻ. Giai đoạn này được J.Piaget gọi là giai đoạn giác - động.
Đây là nên tảng quan trọng để giai đoạn tiên. thao tác và thao tác cụ thể sau nảy của trẻ được phát triển bình thường (Nguyễn Văn Đồng, 2004). Nhìn từ quan điểm văn hóa xã hội của LX. Vygotxky, đứa trẻ sinh ra phải được phát triển vẻ thể chất và tâm lý trong những hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể.
Nều thiêu đi cái xã hội cụ thể ấy thì trẻ cũng không phát triển được tâm lý nhân cách của mình phủ hợp với chuân chung mả xã hội cụ thẻ đó đang quy định, từ kỹ năng nhận thức ban đầu vẻ thế giới ở trẻ đến khả năng nhân thức lý tính có được sau này ở người trưởng thành. Trong giai đoạn đâu đời, trẻ cần được vui chơi và chăm sóc có sự hướng, dẫn của bố mẹ, người thân hoặc người chăm sóc thay thế. Việc người hưởng dẫn hiểu rõ các đặc điêm tâm sinh lý của trẻ vả cỏ những tác động phủ hợp với khả năng tiếp nhận của trẻ được Vygotxky xem là sự tác động vào vùng phát triển gân nhất của trẻ Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng, ở mỗi giai đoạn phát triển lứa tuổi, trẻ cần đạt được một trình độ nhất định về mặt thẻ trạng và tâm lý, ở đó người ta gọi lả điểm tới hạn của sự phát triển. Nêu qua giai đoạn đó mả trẻ vẫn chưa đạt được trình độ trung bình của sự phát triển thẻ trạng và tâm lý thi đứa trẻ đỏ sẽ bị “chậm phát triển” ở khía cạnh nó gặp phải.
Sư phát triên của một đứa trẻ cảng xa điệm phát triển tới hạn bao nhiêu, trẻ cảng khỏ thiết lập trở lại kỹ năng cần có ở đặc điểm tới hạn bây nhiêu. 'Vậy nên, việc giúp trẻ tham gia vào các hoạt động chơi, chăm sóc trẻ trong giai đoạn đầu đời là rất cân thiết để đâm bảo trẻ được phát triển đây đủ cả về mặt thẻ chất vả tâm lý 1. Hoạt động chơi của trẻ. Định nghĩa về hoạt động chơi của trẻ Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam do Nguyễn Lân biên soạn, “chơi” được định nghĩa la hoạt động với mục đích được vui hay thoả thích, tham dự các hoạt động cụ thể như thể thao, nhạc cụ.
Trong ngữ cảnh khác, chơi cỏn là hoạt động quan hệ giao tiếp với người khác, như: kết bạn (chọn bạn mả chơi), thăm hỏi (đến chơi nhà) 11 O tir dién Wikipedia, “choi” (Play) la mét kiểu hoạt động có tính trí tuệ kết hợp với thể giới quan của con người. Hoạt động chơi có thể bao gồm những tương tác bên ngoài và bên trong tâm trí của người chơi, những tác động qua lại có tính vui thủ, giả vờ hay tưởng tượng. Các kiểu hoạt dòng chơi dược thể hiện rõ trong, suốt quả trình phát triển tự nhiên của cơn người, đặc biệt trong quả trình phát triển nhận thức và xã hội hóa ở trễ em. Hoạt động, chơi thường đi kem với dé chơi, động vật và đạo cụ tuỳ theo hoàn cánh học tập vá tiêu khiến.
Trên thực tế, có nhiều quan điểm chưa thông nhất vẻ hoạt dông chơi của con. người, phân biệt nó với những hoạt động khác - không phai hoat dong choi (noxplay). Trong tính tương dói của sự phân biệt này, các nhà khoa học dưa ra các yêu tô thường, có ương hoạt dộng chơi như: sự tham gia của chủ thể vào hoạt dộng chơi; tính vui thú, thỏa thích của hoạt dộng cho người tham gia và, tính tự nguyện của chủ thẻ khi tham gia vào hoạt dộng đó. Ngoài ra, còn nhiều yếu tổ của hoạt động chơi ở can người gây tranh cãi trong, cáo nhà khoa học như: lính giả định của boại động; mức độ nghiềm túc, đầu tư trí Luệ a hoạt động: động cơ bến của chủ thế Iømn gia vào hoạt động, tỉnh qui ước về luật lệ trong của chủ thể them gia hoạt động; mục dích bên ngoài mà chú thể muốn chiém Tĩnh thông quá hoạt động, Những yếu tổ kể trên có tính nôi trội trong các trường hợp xác định cho hoạt đông chơi của con người.
Tuy nhiền, trong hoàn cảnh cụ thể, nó cũng xuất hiện trong, những hoạt động khác của con người. Ví dụ: chơi thế thao, đổi với các vận động viên là lao động nghiêm tức, với người thường nói chung là hoạt động thư giãn Người ta vẫn có cách nói đời thường kiểu “học như choi”, “làm như chơi”, cho thấy sự khó phân biệt các tính chất giữa hoạt động chơi và hoại động không phải chơi rong những trưởng hợp cụ thể. Nhà văn Mark Twain cho rằng: chơi và làm việc là những từ mô tả cùng một sự việc trong những điều kiện khác nhan. Theo từ điển tâm lý học của Vũ Dũng (2008), hoạt động chơi của trẻ được định nghĩa như sau: “Hoạt động vui chơi là các hoại động được tìm kiếm và tha đuỗi một cách tự do vì sự thích thú.
Chơi theo nhóm cé thé thea dang song song giéng nhan, dang cạnh wanh hay dang hop tac hode két hop cd ba dang. Choi rat quan wong déi với trẻ em vì chơi mang lại cho trẻ các Rỹ năng thể chất và xã hội khác nhau. Đó cũng là phương tiện bằng đầu để khám phá bản thân và thê giới cũng như phương tiện dé duy trì sức khôe và đạt được sự cân bằng trang cuộc sống” 12 1. Các lý thuyết đương đại về hoạt động chơi ở trẻ em.
Lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget. Piaget cho rang tré em là những người học đầy năng động và tự động. Bản thân trẻ em có tính tò mỏ tự nhiên đối với thế giới xung quanh. Chúng luôn năng nỗ tìm kiểm thông tin để có thể lý giải và hiểu vẻ thể giới đó.
Chúng thường trải nghiệm những vat the ma ching tinh cờ gặp phải, kham pha va quan sát những hệ quả từ những hành vi của chúng. Khi trẻ chơi, đó chính là lúc trẻ khám phá thể giới qua những tính chất và cầu trúc của đồ vật và qua những hành vi tác động lên đô vật đó, Quá trình học tập của trẻ có tính cơ cầu vả tỉnh cá thể. Đứa trẻ năng động tìm tôi thông tin và kết nổi các thông tin theo cách riêng để lý giải vẻ môi trường sông xung quanh. Piaget dùng thuật ngữ ` sơ cầu” khi giải thích tính cơ cẫu trong quá trình học tập của trẻ.
Đỏ là một dạng câu trúc nhận thức đơn giản mả trẻ có được nhờ những hanh vi phản xa ty phat ban dau. Khi các kích thích quen thuộc xuất hiện thường xuyên, các phản xạ tự phát đàn đần có chọn lọc, sơ cầu càng được củng cô và trở thành kiểu hanh vi co the lap đi lập lại khi trẻ nhận biết kich thích quen thuộc tác động. Piaget cho rằng trẻ sử dụng nhiêu lần các sơ câu mới đạt được trong các tình huông tương tự và mới mẻ. Quá trình lập lại các sơ cảu đó giúp đứa trẻ chọn lọc các hanh vi vả kết hợp chủng lạidựa trên quá trinh tư duy thao tác.
Lỷ thuyết nảy được chứng thực khi ta quan sát trẻ chơi. Trong lúc chơi, trẻ thao tác lặp đi lặp lại nhiều lântrên một vật và thử chơi bằng nhiều cách khác nhau với đỏ vật đó, cho tới khi chọn được cách chơi tương ứng với chức năng của nó, và kết hợp chơi giữa đồ vật đỏ với đỏ vật khác. Chẳng hạn, trẻ đập hoặc quăng chiếc xe nhiều lần trước khi biết đầy xe chạy vả cho hình người lên xe Theo Piaget, sự phát triển của các sơ cau cho phép đứa trẻ thích nghĩ dân với môi trường sóng. Su phat trién nay trén hai co che: déng hoa va điều ứng.
Quả trinh đồng hoá giúp mở rộng các sơ câu với những đối tượng mới có tỉnh chất tương đỏng, với những đổi tượng đã biết.