Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp với nguyên nhân chủ yếu từ sự gia tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, đặc biệt là khí CO2 (tăng 35,4% tính từ cuối thế kỷ XVIII do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch và mất rừng). Theo các đánh giá của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất; nếu nhiệt độ tăng thêm 2°C, ước tính khoảng 22 triệu người sẽ mất chỗ ở và 45% diện tích đất nông nghiệp tại Đồng bằng sông Mê Kông có nguy cơ mất khả năng canh tác do nước biển dâng.
Trong chu trình các bon toàn cầu, hệ sinh thái rừng đóng vai trò là bể chứa và bể hấp thụ đặc biệt quan trọng, lưu giữ khoảng 800 - 1.000 tỷ tấn các bon và hấp thụ xấp xỉ 100 tỷ tấn CO2 mỗi năm. Tại Việt Nam, cơ sở pháp lý về định giá rừng đã được ghi nhận trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi năm 2004, mở đường cho việc tham gia Cơ chế phát triển sạch (CDM) và chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, khả năng tích lũy các bon thay đổi tùy thuộc vào loài cây, lập địa, tuổi và cấu trúc lâm phần. Keo tai tượng (Acacia mangium) là loài cây gỗ lớn sinh trưởng nhanh, thích hợp với nhiệt độ 23 - 24°C và lượng mưa trên 1.000 mm, được trồng phổ biến nhằm cải tạo môi trường và cung cấp gỗ nguyên liệu. Việc định lượng khả năng hấp thụ các bon của loài cây này tại từng địa bàn cụ thể là cơ sở khoa học để lượng hóa giá trị môi trường và đề xuất biện pháp quản lý rừng bền vững.
Đề tài "Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng Keo tai tượng (Acacia mangium) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên" do sinh viên Hoàng Minh Tới thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đặng Thị Thu Hà (chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, 2018) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xác định sinh khối của trạng thái rừng Keo tai tượng.
- Xác định trữ lượng các bon tích lũy trên mặt đất ở rừng Keo tai tượng tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Tính toán tổng lượng các bon và lượng CO2 tương đương tích lũy trong rừng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là khả năng tích lũy các bon của rừng Keo tai tượng (Acacia mangium). Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở phần sinh khối và tích lũy các bon trên mặt đất (bao gồm tầng cây gỗ sống và tầng thảm mục). Địa điểm thực hiện tại khuôn viên và các khu đồi thực nghiệm thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên; đặc điểm địa hình đồi bát úp, độ dốc trung bình 24 - 25°, độ cao 50 - 70 m, đất feralit phát triển trên đá sa thạch, lượng mưa trung bình năm 1.500 - 2.000 mm, nhiệt độ trung bình năm 24 - 25°C). Thời gian thực hiện thu thập số liệu thực địa trong 3 tháng, từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết về sinh thái học rừng, động thái sinh khối và chu trình tuần hoàn các bon trong hệ sinh thái thực vật, gắn liền với các hướng dẫn kỹ thuật của IPCC (2000, 2003) và các quy định về dịch vụ môi trường rừng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004). Khung đánh giá sinh khối và khả năng cố định CO2 của thực vật kế thừa phương pháp nghiên cứu cây mẫu và biểu sinh khối của Canell (1982), Brown et al. (1989), Brown (1997), cùng các công trình nghiên cứu sinh khối rừng trồng tại Việt Nam của Lê Hồng Phúc (1996), Nguyễn Ngọc Lung (2004), Vũ Tấn Phương (2006) và Ngô Đình Quế (2006).
Đề tài kết hợp cách tiếp cận điều tra sinh thái tự nhiên và tiếp cận cộng đồng thông qua các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, khí tượng thủy văn, đất đai, địa hình và các báo cáo lâm nghiệp liên quan tại khu vực nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 12 ô tiêu chuẩn tạm thời đại diện cho các lâm phần Keo tai tượng với diện tích mỗi ô là 500 m² (kích thước 20 m × 25 m). Trong mỗi ô tiêu chuẩn, bố trí 5 ô dạng bản diện tích 1 m² (1 m × 1 m) tại 5 vị trí (4 góc và tâm ô) để thu thập mẫu vật thảm mục.
- Phương pháp đo đếm tầng cây gỗ: Đo đếm toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực DBH ($D_{1.3}$) > 5 cm theo phương pháp vành khăn. Các chỉ tiêu đo gồm đường kính vị trí 1,3 m ($D_{1.3}$ đo bằng thước dây chu vi, quy đổi theo công thức $D = C/\pi$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) và đường kính tán ($D_t$).
- Phương pháp xác định sinh khối:
- Sinh khối tầng cây gỗ ($Y$, đơn vị kg/cây) được xác định bằng phương pháp bảo tồn cây, sử dụng phương trình tương quan allometric cho rừng nhiệt đới của Brown et al. (1989) dựa trên biến số đường kính $D_{1.3}$.
- Sinh khối thảm mục được thu toàn bộ trong 5 ô dạng bản, cân xác định khối lượng tươi ($FW$) tại hiện trường, sau đó rút mẫu đại diện 200 g đem sấy khô tại phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 85°C trong 48 giờ để xác định khối lượng khô ($DW$). Do lâm phần vừa trải qua đợt vệ sinh thực bì lâm sinh nên tầng cây bụi thảm tươi không phát triển đáng kể và không thu thập mẫu riêng.
- Phương pháp tính toán lượng các bon và CO2 tương đương:
- Lượng các bon tích lũy ($W_C$) được tính toán thông qua hệ số chuyển đổi mặc định của IPCC (2003): $W_C = 0,45 \times DW$ (với $DW$ là tổng sinh khối khô).
- Lượng CO2 tương đương hấp thụ ($N_{\text{CO2Eq}}$) được quy đổi theo công thức: $N_{\text{CO2Eq}} = W_C \times 3,67$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thách thức của biến đổi khí hậu toàn cầu và tiềm năng của rừng trồng trong việc giảm phát thải khí nhà kính. Khái quát đặc tính sinh thái của loài Keo tai tượng (Acacia mangium) và sự cần thiết phải định lượng giá trị hấp thụ các bon tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phục vụ đào tạo, nghiên cứu và quản lý rừng. Xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận.
Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Tổng hợp toàn diện các công trình nghiên cứu về sinh khối, năng suất rừng và khả năng hấp thụ CO2 trên thế giới và tại Việt Nam:
- Trên thế giới: Điểm lại các mốc lịch sử nghiên cứu của J. Liebig, H. Lieth (1964), Canell (1982), Brown & Pearce (1997), các mô hình tích lũy các bon của Brown et al. (1980, 1989), Houghton (1991), McKenzie (2001) và các báo cáo định mức hấp thụ sinh khối của IPCC (2000).
- Tại Việt Nam: Phân tích các kết quả nghiên cứu sinh khối và trữ lượng các bon trên các loài cây rừng chính như Thông ba lá (Lê Hồng Phúc 1996; Nguyễn Ngọc Lung 2004), Đước đôi (Hoàng Mạnh Trí 1986; Đặng Trung Tấn 2001), Keo lá tràm (Vũ Văn Thông 1998; Nguyễn Văn Dũng 2005), Bạch đàn Urophylla (Nguyễn Văn Tấn 2006), Mỡ (Lý Thu Huỳnh 2007) và các nghiên cứu tổng thể về cơ chế CDM của Ngô Đình Quế (2006), Vũ Tấn Phương (2006, 2007).
- Tổng quan khu vực nghiên cứu: Trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, địa hình đồi bát úp, thổ nhưỡng feralit sa thạch và đặc điểm khí hậu thủy văn của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tại xã Quyết Thắng.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu là rừng trồng Keo tai tượng thuần loài; phạm vi đo đếm các bon trên mặt đất; quy trình thiết kế 12 ô tiêu chuẩn 500 m² và hệ thống ô dạng bản 1 m². Chi tiết hóa các công thức toán học đo đếm lâm học (mật độ $N$, tiết diện ngang $G$, trữ lượng $M$), công thức sinh khối cây gỗ của Brown et al. (1989), quy trình xử lý sấy mẫu thảm mục tại 85°C trong 48 giờ, công thức chuyển đổi các bon ($W_C = 0,45 \times DW$) và hệ số chuyển đổi sang CO2 ($3,67$).
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Trình bày và phân tích các số liệu thực nghiệm thu thập từ 12 ô tiêu chuẩn:
- Đặc điểm cấu trúc lâm phần: Phân tích sự biến động về đường kính bình quân ($D_{tb}$ từ 14,0 - 18,6 cm), chiều cao vút ngọn bình quân ($H_{tb}$ từ 12,4 - 17,1 m), mật độ ($N$ từ 640 - 940 cây/ha), tổng tiết diện ngang ($G$ từ 5,88 - 9,94 m²/ha) và trữ lượng thân cây ($M$ từ 34,20 - 72,38 m³/ha).
- Sinh khối tươi trên mặt đất: Đánh giá tổng sinh khối tươi biến động từ 57,05 đến 103,48 tấn/ha, trong đó tầng cây gỗ chiếm tỷ lệ áp đảo (>85%), thảm mục chiếm dưới 15%.
- Sinh khối khô trên mặt đất: Ghi nhận tổng sinh khối khô dao động từ 29,72 đến 55,43 tấn/ha (cây gỗ chiếm 25,30 - 49,48 tấn/ha; thảm mục chiếm 4,32 - 7,29 tấn/ha).
- Lượng các bon và CO2 tương đương: Xác định tổng lượng các bon tích lũy đạt từ 13,37 đến 24,94 tấn C/ha và trữ lượng CO2 tương đương dao động từ 49,08 đến 91,54 tấn CO2/ha.
- Nhận diện nguy cơ và đề xuất giải pháp: Chỉ rõ các tác nhân làm suy giảm bể các bon (chặt phá, tỉa thưa sai quy trình, lạm dụng thuốc diệt cỏ, đốt thực bì làm mất 70% dinh dưỡng đất, xói mòn) và đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh (tỉa cành, chọn giống kháng bệnh phấn trắng/thán thư/mối, quy cách cuốc hố 30 × 30 × 30 cm, cự ly 0,8 × 0,4 m, bón phân hợp lý).
Phần 5: Kết luận, kiến nghị
Tổng hợp toàn bộ các kết luận định lượng về cấu trúc, sinh khối, trữ lượng các bon và khả năng hấp thụ CO2 của rừng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu. Đưa ra 4 kiến nghị cụ thể mở rộng nghiên cứu sang các loài cây khác, các cấp tuổi khác nhau, theo dõi biến động theo mùa và đánh giá bổ sung bể các bon trong đất.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu định lượng đầy đủ về đặc điểm cấu trúc, sinh khối, khả năng tích lũy các bon và lượng CO2 tương đương của 12 lâm phần Keo tai tượng nghiên cứu tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được tổng hợp trong bảng số liệu dưới đây:
| OTC |
$D_{tb}$ (cm) |
$H_{tb}$ (m) |
Mật độ $N$ (cây/ha) |
Trữ lượng $M$ (m³/ha) |
Sinh khối tươi (tấn/ha) |
Sinh khối khô (tấn/ha) |
Lượng C tích lũy (tấn C/ha) |
Lượng CO2 tương đương (tấn/ha) |
| 1 |
15,3 |
12,5 |
840 |
48,16 |
80,32 |
42,38 |
19,07 |
69,99 |
| 2 |
15,4 |
14,7 |
940 |
60,74 |
88,24 |
46,38 |
20,87 |
76,60 |
| 3 |
14,3 |
13,2 |
780 |
40,15 |
60,89 |
33,06 |
14,88 |
54,60 |
| 4 |
14,9 |
13,4 |
680 |
37,39 |
57,05 |
29,72 |
13,37 |
49,08 |
| 5 |
14,9 |
13,3 |
700 |
38,04 |
58,94 |
32,61 |
14,67 |
53,86 |
| 6 |
14,9 |
12,4 |
640 |
34,20 |
57,14 |
29,89 |
13,45 |
49,36 |
| 7 |
17,8 |
17,1 |
680 |
69,07 |
93,82 |
49,04 |
22,07 |
80,99 |
| 8 |
17,8 |
15,5 |
780 |
72,38 |
103,48 |
55,43 |
24,94 |
91,54 |
| 9 |
14,0 |
13,0 |
840 |
40,20 |
61,31 |
33,92 |
15,26 |
56,02 |
| 10 |
18,3 |
15,7 |
700 |
68,48 |
101,85 |
54,12 |
24,44 |
89,68 |
| 11 |
18,6 |
16,8 |
640 |
70,71 |
98,68 |
54,14 |
24,36 |
89,41 |
| 12 |
17,4 |
16,1 |
700 |
66,77 |
92,54 |
50,18 |
22,58 |
82,87 |
Về phân bổ sinh khối, tầng cây gỗ sống chiếm trên 85% tổng sinh khối tươi của lâm phần (cao nhất ở OTC 1 với 91,53%), trong khi thảm mục chiếm tỷ lệ nhỏ dưới 15% (thấp nhất ở OTC 1 với 8,47%). Tương ứng về lượng các bon tích lũy, tầng cây gỗ tích lũy từ 11,39 tấn C/ha (OTC 6) đến 22,27 tấn C/ha (OTC 8), còn thảm mục chỉ tích lũy từ 1,94 tấn C/ha (OTC 4) đến 3,28 tấn C/ha (OTC 2).
Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh được tác giả đề xuất nhằm duy trì và nâng cao khả năng tích lũy các bon bao gồm:
- Tăng cường công tác quản lý bảo vệ, hạn chế tối đa các tác động tiêu cực làm suy giảm diện tích rừng.
- Thực hiện tỉa cành, tỉa thưa đúng quy chuẩn kỹ thuật để thúc đẩy tăng trưởng đường kính thân cây, nâng cao sinh khối tích lũy.
- Chuẩn bị đất trồng rừng chu đáo: xử lý thực bì cục bộ (tránh đốt toàn diện vì làm mất đến 70% dinh dưỡng đất), làm đất, cuốc hố kích thước 30 × 30 × 30 cm với khoảng cách 0,8 × 0,4 m.
- Chọn giống cây keo có tốc độ sinh trưởng nhanh và khả năng kháng sâu bệnh hại tốt; xác định loại phân bón, lượng bón và thời điểm bón phù hợp theo điều kiện lập địa.
- Thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy rừng và phòng trừ định kỳ các đối tượng sâu bệnh hại chính trên Keo tai tượng như bệnh phấn trắng lá keo, bệnh thán thư và mối.
Về mặt đóng góp, khóa luận đã bổ sung dẫn liệu thực nghiệm cụ thể về cấu trúc lâm học, sinh khối và khả năng hấp thụ CO2 của rừng trồng Keo tai tượng trên vùng đất đồi Thái Nguyên, đóng góp cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu sinh thái rừng trồng và hỗ trợ xây dựng phương án chi trả dịch vụ môi trường rừng tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số giới hạn và định hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Hạn chế: Nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá bể các bon trên mặt đất (cây gỗ và thảm mục), chưa tiến hành xác định bể các bon dưới mặt đất (sinh khối rễ cây và hàm lượng các bon hữu cơ trong đất). Tầng cây bụi thảm tươi chưa được thu thập riêng do lâm phần mới được xử lý thực bì lâm sinh trước thời điểm điều tra. Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong 3 tháng (tháng 8 - 11/2017) nên chưa phản ánh được biến động sinh khối thảm mục theo chu kỳ các mùa trong năm.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng điều tra khả năng tích lũy các bon trong đất và hệ thống rễ của rừng Keo tai tượng.
- Tiến hành nghiên cứu so sánh khả năng tích lũy các bon giữa Keo tai tượng với các đối tượng rừng trồng khác trong khu vực.
- Đánh giá khả năng tích lũy các bon của rừng trồng ở các cấp tuổi sinh trưởng khác nhau.
- Thực hiện quan trắc, thu thập số liệu vào các thời điểm mùa khác nhau trong năm để phân tích biến động động thái của thảm mục và sinh khối.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Khoa học môi trường và Biến đổi khí hậu:
- Phương pháp điều tra thực địa: Cung cấp quy trình chuẩn về việc thiết lập ô tiêu chuẩn 500 m² và ô dạng bản 1 m², cách thức đo đếm các nhân tố điều tra rừng ($D_{1.3}$, $H_{vn}$, $H_{dc}$, $D_t$) và kỹ thuật thu thập, sấy mẫu thảm mục ở 85°C trong 48 giờ.
- Phương pháp tính toán và chuyển đổi số liệu: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về việc áp dụng phương trình allometric của Brown et al. (1989), sử dụng hệ số chuyển đổi các bon IPCC ($0,45$) và hệ số quy đổi lượng CO2 tương đương ($3,67$).
- Dữ liệu so sánh: Cung cấp nguồn số liệu cơ sở về các chỉ tiêu cấu trúc, trữ lượng gỗ ($34,20 - 72,38\text{ m}^3/\text{ha}$), sinh khối khô ($29,72 - 55,43\text{ tấn/ha}$) và lượng CO2 tương đương ($49,08 - 91,54\text{ tấn/ha}$) của rừng Keo tai tượng phục vụ các nghiên cứu so sánh sinh thái học.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu những bể chứa các bon nào của rừng Keo tai tượng?
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở bể chứa các bon phần trên mặt đất, bao gồm 2 thành phần chính: tầng cây gỗ sống có đường kính ngang ngực $D_{1.3} > 5\text{ cm}$ và tầng thảm mục khô. Tầng cây bụi thảm tươi không được thu thập do lâm phần vừa được dọn dẹp vệ sinh thực bì; bể các bon dưới mặt đất (rễ cây và đất rừng) nằm ngoài phạm vi khảo sát của đề tài.
2. Sự biến động về cấu trúc lâm phần giữa 12 ô tiêu chuẩn diễn ra như thế nào?
Giữa 12 ô tiêu chuẩn ($500\text{ m}^2/\text{ô}$), các chỉ tiêu cấu trúc có sự phân hóa rõ rệt: đường kính trung bình ($D_{tb}$) dao động từ $14,0\text{ cm}$ (OTC 9) đến $18,6\text{ cm}$ (OTC 11); chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{tb}$) dao động từ $12,4\text{ m}$ (OTC 6) đến $17,1\text{ m}$ (OTC 7); mật độ lâm phần ($N$) dao động từ $640\text{ cây/ha}$ (OTC 6, OTC 11) đến $940\text{ cây/ha}$ (OTC 2); và trữ lượng lâm phần ($M$) dao động từ $34,20\text{ m}^3/\text{ha}$ (OTC 6) đến $72,38\text{ m}^3/\text{ha}$ (OTC 8).
3. Tỷ lệ đóng góp sinh khối giữa tầng cây gỗ và thảm mục được ghi nhận ra sao?
Tầng cây gỗ sống chiếm tỷ lệ chi phối trong tổng sinh khối tươi của lâm phần với tỷ lệ trên 85% (dao động từ $87,15%$ ở OTC 2 đến $91,53%$ ở OTC 1). Tầng thảm mục chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ dưới 15% (dao động từ $8,47%$ ở OTC 1 đến $12,85%$ ở OTC 2).
4. Ô tiêu chuẩn nào có lượng tích lũy các bon và CO2 tương đương cao nhất và thấp nhất?
- Ô tiêu chuẩn có lượng tích lũy cao nhất là OTC 8 với tổng sinh khối khô đạt $55,43\text{ tấn/ha}$, lượng các bon tích lũy đạt $24,94\text{ tấn C/ha}$ và lượng CO2 tương đương đạt $91,54\text{ tấn CO2/ha}$.
- Ô tiêu chuẩn có lượng tích lũy thấp nhất là OTC 4 với tổng sinh khối khô đạt $29,72\text{ tấn/ha}$, lượng các bon tích lũy đạt $13,37\text{ tấn C/ha}$ và lượng CO2 tương đương đạt $49,08\text{ tấn CO2/ha}$.
5. Những nguyên nhân chính nào được chỉ ra có nguy cơ làm suy giảm trữ lượng các bon của rừng?
Các nguyên nhân chính đe dọa làm suy giảm trữ lượng các bon gồm: suy giảm diện tích rừng do khai thác hoặc thiên tai; áp dụng biện pháp lâm sinh thiếu khoa học (tỉa cành, tỉa thưa không đúng quy chuẩn, dọn sạch thực bì quá mức); lạm dụng thuốc diệt cỏ gây thoái hóa môi trường đất; kỹ thuật đốt thực bì toàn diện làm mất tới 70% chất dinh dưỡng trong đất; và tác động xói mòn, sạt lở đất do mưa lớn trên địa hình đồi dốc.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hoàng Minh Tới đã hoàn thành việc đánh giá thực nghiệm các đặc trưng cấu trúc lâm phần, sinh khối và khả năng tích lũy các bon trên mặt đất của rừng trồng Keo tai tượng tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên qua 12 ô tiêu chuẩn điều tra. Kết quả cho thấy rừng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu có khả năng tích lũy từ $13,37$ đến $24,94\text{ tấn C/ha}$ (tương đương hấp thụ từ $49,08$ đến $91,54\text{ tấn CO2/ha}$), trong đó tầng cây gỗ giữ vai trò chủ đạo chiếm trên 85% tổng sinh khối. Công trình cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ công tác quản lý rừng bền vững, nâng cao bể chứa các bon và đóng góp dữ liệu cho các chính sách dịch vụ môi trường rừng tại địa phương.