Tổng quan luận án
Bệnh do giun tròn ký sinh trùng đường tiêu hóa ở lợn là một trong những nguyên nhân gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia súc. Tại Việt Nam, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm tạo môi trường thuận lợi cho sự tồn tại và phát tán của các loài ký sinh trùng, trong đó có giun tròn Trichocephalus suis (hay Trichuris suis). Bệnh thường diễn biến ở thể mãn tính, làm suy giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng, khiến lợn còi cọc, chậm lớn, tăng tiêu tốn thức ăn, giảm khối lượng từ 15% đến 20% và gây tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, mở đường cho các mầm bệnh vi khuẩn, virus kế phát.
Tại hai tỉnh miền núi phía Bắc là Thái Nguyên và Bắc Kạn, chăn nuôi lợn đóng vai trò chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của địa phương. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào được thực hiện một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về đặc điểm dịch tễ học, bệnh học cũng như các biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn giống Trichocephalus gây ra trên đàn lợn tại địa bàn này. Việc thiếu hụt cơ sở dữ liệu khoa học đã dẫn đến việc chưa xây dựng được quy trình phòng chống bệnh có hiệu quả cao trong thực tiễn chăn nuôi nông hộ và trang trại. Luận án tiến sĩ thú y của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bích Ngà (2015) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng gồm hai nội dung chính:
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh học và biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.
- Đề xuất quy trình phòng trị Trichocephalosis cho lợn ở tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và các tỉnh miền núi phía Bắc khác.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Giun tròn giống Trichocephalus (Trichocephalus suis), trứng giun ở môi trường ngoại cảnh, lợn nuôi tại nông hộ và trang trại (bao gồm đàn lợn điều tra tự nhiên và lợn thí nghiệm gây nhiễm), các loại mẫu phân, chất thải chăn nuôi, mẫu đất, mẫu thức ăn và bệnh phẩm đường tiêu hóa.
- Phạm vi không gian: Các địa bàn chăn nuôi lợn thuộc tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn. Hoạt động xét nghiệm mẫu, giám định hình thái và phân tích bệnh lý được phối hợp thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Phòng Siêu cấu trúc thuộc Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.
- Phạm vi thời gian: Công trình được hoàn thành và bảo vệ vào năm 2015, thu thập dữ liệu dịch tễ theo chu kỳ các mùa trong năm và theo dõi các chỉ tiêu thí nghiệm phòng trị trong nhiều giai đoạn can thiệp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến phân loại học, đặc điểm sinh học, dịch tễ học và tác hại của giun tròn Trichocephalus suis:
Về vị trí phân loại học động vật, tác giả trích dẫn hệ thống phân loại của Skrjabin K. I. (1996), xác định loài Trichocephalus suis (Schrank, 1788) thuộc giống Trichocephalus (Schrank, 1788), phân họ Trichocephalinae (Ransom, 1911), họ Trichocephalidae (Baird, 1853), phân bộ Trichocephalata (Skrjabin et Schulz, 1928), bộ Trichocephalida (Skrjabin et Schulz, 1928), phân lớp Enoplia (Chitwood, 1933), lớp Nematoda (Rudolphi, 1808), ngành Nemathelminthes (Schneider, 1873).
Về đặc điểm hình thái và cấu tạo, các tài liệu được điểm lại gồm có công trình của Mozgovoi A. A. (1979) với các số liệu đo đạc chi tiết về kích thước giun đực (chiều dài thân 33,0 - 48,0 mm, trung bình 40,35 mm; phần đầu trung bình 25,3 mm; tỷ lệ đầu/thân 1,68:1; gai giao hợp 1,74 - 2,48 mm), giun cái (chiều dài 38,0 - 53,0 mm, trung bình 45,55 mm; phần đầu trung bình 30,55 mm; phần thân 15,0 mm; tỷ lệ đầu/thân 2,04:1; kích thước trứng 0,056 - 0,066 x 0,025 - 0,030 mm). Skrjabin K. I. (1996), Trịnh Văn Thịnh (2005) và Nguyễn Thị Kim Lan (2012) cũng mô tả cấu trúc cơ thể đặc trưng dạng roi (phần đầu mảnh như sợi tóc chiếm 2/3 chiều dài cơ thể, phần sau phình to chứa cơ quan tiêu hóa và sinh sản) và trứng có hình hạt chanh với hai nút nhầy trong suốt ở hai cực.
Về vòng đời và sức đề kháng của mầm bệnh, các tác giả Joseph Alicata E. (1935), Bonner Stewart T. (2000), Ames (2005), Leland Shapiro S. (2010), Nguyễn Thị Kim Lan (2011, 2012) xác nhận Trichocephalus suis có vòng đời trực tiếp không qua ký chủ trung gian. Trứng theo phân ra ngoài cảnh, phát triển thành trứng chứa ấu trùng gây nhiễm trong thời gian 3 - 4 tuần ở điều kiện thuận lợi. Khi ký chủ nuốt phải trứng gây nhiễm, ấu trùng thoát vỏ tại ruột non, chui sâu vào niêm mạc manh tràng và ruột già phát triển mà không di hành qua gan phổi, sau 4 - 5 tuần trở thành giun trưởng thành. Khả năng tồn tại của trứng ở ngoại cảnh kéo dài nhờ lớp vỏ dày, nhưng bị tiêu diệt bởi nhiệt độ cao (trên 45°C trong ủ phân sinh nhiệt theo Skrjabin 1996, hoặc ánh nắng mặt trời làm khô theo Ames 2005, Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh 1975).
Về tình hình phân bố dịch tễ, luận án điểm lại các số liệu nhiễm Trichocephalus suis tại Việt Nam qua các giai đoạn: Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1976 tại Hà Bắc; 1981 tại Nghĩa Lộ 40,3%, Quảng Ninh 33,7%, Bắc Giang - Bắc Ninh 27,3%, Nam Định - Hà Nam 33,3%); Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978 tại các nông trường quốc doanh); Nguyễn Đăng Khải (1996 tại trung du 29,8%, miền núi 27,8%); Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997 tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ); Nguyễn Văn Huy và cs. (2010 ghi nhận tỷ lệ nhiễm tại Thái Nguyên là 34,92%). Trên thế giới, các nghiên cứu tại Chile (Torres P., 1995: 3,2%), Ghana (1999: 4,6%), Anh (Pearce G., 2000: 20%), Trung Quốc (Hồ Nam 15,8% năm 2000; Trùng Khánh 10,13% năm 2011), Nhật Bản (Matsubayashi M., 2009 tại Osaka: 24,8%), Mỹ (Pittman J., 2010: 45% trang trại) cho thấy mầm bệnh hiện diện khắp toàn cầu.
| Tác giả / Năm công bố | Địa bàn nghiên cứu | Tỷ lệ nhiễm T. suis (%) |
|---|---|---|
| Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1981) | Nghĩa Lộ | 40,30 |
| Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1981) | Quảng Ninh | 33,70 |
| Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1981) | Nam Định, Hà Nam | 33,30 |
| Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1981) | Bắc Giang, Bắc Ninh | 27,30 |
| Nguyễn Đăng Khải (1996) | Vùng Trung du phía Bắc | 29,80 |
| Nguyễn Đăng Khải (1996) | Vùng Miền núi phía Bắc | 27,80 |
| Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997) | TP. Hồ Chí Minh | 39,00 |
| Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997) | Quảng Ngãi, Bình Định | 27,50 |
| Nguyễn Văn Huy và cs. (2010) | Thái Nguyên | 34,92 |
| Pearce G. (2000) | Vùng Trung Tây nước Anh | 20,00 |
| Matsubayashi M. (2009) | Osaka, Nhật Bản | 24,80 |
| Chen và cs. (2011) | Trùng Khánh, Trung Quốc | 10,13 |
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là thực hiện khảo sát dịch tễ chuyên sâu gắn liền với phân tích bệnh học thực nghiệm (huyết học, đại thể, vi thể), đồng thời đánh giá thực nghiệm các biện pháp xử lý phân sinh nhiệt, hóa chất sát trùng và thuốc tẩy giun để hoàn thiện một quy trình phòng trị đồng bộ cho vùng nghiên cứu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và phân tích
Luận án vận dụng lý thuyết ký sinh trùng học thú y kinh điển về mối quan hệ giữa ký sinh trùng - ký chủ - môi trường ngoại cảnh đối với nhóm giun tròn truyền qua đất (soil-transmitted helminths). Đánh giá dịch tễ dựa trên hai chỉ số cơ bản: tỷ lệ nhiễm (Prevalence, %) và cường độ nhiễm (Intensity, tính bằng số lượng giun thu thập qua mổ khám hoặc số lượng trứng trên một gam phân - EPG). Đánh giá bệnh học dựa trên cơ chế tổn thương cơ học, chiếm đoạt chất dinh dưỡng, phản ứng viêm và đáp ứng huyết học của ký chủ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp điều tra dịch tễ học mô tả, thực nghiệm bệnh học trên động vật sống và thử nghiệm can thiệp điều trị:
-
Phương pháp thu thập mẫu và định danh:
- Mổ khám toàn diện manh tràng và kết tràng của lợn theo phương pháp mổ khám giun sán không toàn phần hoặc toàn phần của Skrjabin.
- Thu thập giun tròn trưởng thành, cố định, tẩy trong bằng dung dịch lactophenol hoặc cồn glycerin, quan sát dưới kính hiển vi quang học và đo đạc kích thước vi thể bằng trắc vi thị kính (chiều dài thân, chiều dài gai giao hợp, chiều dài thực quản, tỷ lệ đầu/thân).
- So sánh đặc điểm hình thái học với khóa định loại của Skrjabin (1996), Mozgovoi (1979) và Trịnh Văn Thịnh (2005).
-
Phương pháp điều tra dịch tễ:
- Thu thập mẫu phân ngẫu nhiên từ các nhóm lợn theo lứa tuổi (lợn con theo mẹ, lợn cai sữa, lợn vỗ béo, lợn nái), theo mùa vụ (Xuân, Hạ, Thu, Đông hoặc Hè - Thu và Đông - Xuân), theo phương thức chăn nuôi (nuôi nhốt tập trung, nuôi bán thâm canh, nuôi thả rông) và theo điều kiện vệ sinh thú y tại Thái Nguyên và Bắc Kạn.
- Xét nghiệm phân bằng phương pháp lắng cặn Fülleborn và phương pháp đếm trứng phù nổi McMaster cải tiến để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm.
- Khảo sát ô nhiễm ngoại cảnh: lấy mẫu đất chuồng nuôi, sân chơi, bãi chăn thả và mẫu rau, cây thức ăn chăn nuôi để phân lập và đếm mật độ trứng giun có sức gây bệnh.
-
Phương pháp nghiên cứu bệnh học:
- Gây nhiễm thực nghiệm: Cho lợn sạch ký sinh trùng uống liều trứng Trichocephalus suis có sức gây bệnh; theo dõi thời gian ủ bệnh, thời gian hoàn thành vòng đời, chu kỳ và lượng bài xuất trứng theo thời gian.
- Theo dõi lâm sàng và huyết học: Ghi nhận biểu hiện tiêu chảy, còi cọc, giảm tăng trọng. Thu thập mẫu máu định kỳ để xác định các chỉ tiêu huyết học (hồng cầu, huyết sắc tố, hematocrit) và biến động công thức bạch cầu (bạch cầu ái toan, bạch cầu trung tính, lympho bào).
- Bệnh lý học: Mổ khám động vật thí nghiệm gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên, quan sát và ghi nhận bệnh tích đại thể trên niêm mạc đường tiêu hóa. Cắt tiêu bản mô bệnh học ruột già, nhuộm Hematoxylin - Eosin (H&E) để phân tích tổn thương vi thể (xâm nhập tế bào viêm, teo nhung mao, hoại tử niêm mạc).
-
Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị:
- Thử nghiệm thuốc sát trùng: Khảo sát hiệu lực tiêu diệt trứng giun của một số loại hóa chất sát trùng chuồng trại thông dụng trong điều kiện mùa hè.
- Thử nghiệm ủ phân sinh nhiệt: Bố trí 4 công thức ủ phân (Công thức I, Công thức II, Công thức III và Công thức IV - compost), theo dõi đường cong sinh nhiệt theo ngày và xác định thời gian tiêu diệt hoàn toàn trứng giun ở các tầng ủ.
- Thử nghiệm hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun: Đánh giá các hoạt chất tẩy giun chuyên dụng trên lợn thí nghiệm và đàn lợn thực địa, xác định tỷ lệ sạch trứng giun, tỷ lệ giảm trứng giun và theo dõi phản ứng phụ của lợn.
- Thử nghiệm quy trình phòng trị tổng hợp: Bố trí lô thí nghiệm (áp dụng quy trình gồm dùng thuốc tẩy giun định kỳ, sát trùng chuồng trại và ủ phân diệt mầm bệnh) so sánh với lô đối chứng (chăn nuôi theo tập quán cũ), theo dõi tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm và khả năng tăng khối lượng của lợn sau 1 tháng và 2 tháng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này cung cấp bức tranh toàn cảnh về cơ sở sinh học và dịch tễ học của bệnh do Trichocephalus suis:
- Hệ thống hóa vị trí phân loại và đặc điểm giải phẫu hình thái của giun T. suis đực và cái, cấu trúc trứng hạt chanh có hai nắp cực trong suốt.
- Phân tích chi tiết vòng đời trực tiếp: trứng theo phân ra ngoại cảnh phát triển qua các giai đoạn phân chia phôi bào hình thành ấu trùng gây nhiễm; thời gian phát triển phụ thuộc mật thiết vào nhiệt độ và ẩm độ môi trường (nhiệt độ 37,5°C cần 18 ngày, 33°C cần 25 ngày, nhiệt độ thấp 6,1 - 24,5°C kéo dài đến hàng tháng).
- Tổng hợp các nghiên cứu dịch tễ học trong nước và quốc tế, chứng minh tính chất lưu hành phổ biến của mầm bệnh ở các vùng địa lý khác nhau, tỷ lệ nhiễm cao ở lợn giai đoạn sau cai sữa (2 - 4 tháng tuổi) và nguy cơ lây truyền chéo sang người liên quan đến dịch tễ học phân tử của giống Trichuris.
- Đánh giá các phương pháp chẩn đoán lâm sàng, xét nghiệm phân và nguyên lý sử dụng thuốc tẩy giun, hóa chất sát trùng và biện pháp ủ phân sinh nhiệt.
Chương 2: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả toàn bộ thiết kế nghiên cứu, vật liệu và quy trình kỹ thuật:
- Trình bày đối tượng động vật thí nghiệm, các nguồn mẫu phân, mẫu giun thu thập tại các huyện của tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn.
- Quy định các chỉ tiêu dịch tễ, công thức tính toán tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm và các yếu tố ảnh hưởng (lứa tuổi lợn, mùa vụ trong năm, phương thức chăn nuôi, điều kiện vệ sinh thú y).
- Quy trình bố trí thí nghiệm gây nhiễm thực nghiệm trên lợn sạch bệnh, phương pháp thu thập máu xét nghiệm chỉ tiêu huyết học và công thức bạch cầu.
- Quy trình mổ khám, cố định mẫu bệnh phẩm làm tiêu bản mô học vi thể.
- Thiết kế các lô thí nghiệm đánh giá hóa chất sát trùng, 4 công thức ủ phân sinh nhiệt diệt mầm bệnh và thử nghiệm lâm sàng xác định hiệu lực, độ an toàn của thuốc tẩy giun trên đàn lợn thí nghiệm cũng như đàn lợn sản xuất tại địa phương.
Phần 3 (Chương 3): Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm và thảo luận kết quả nghiên cứu:
- Định danh loài: Xác định loài giun tròn ký sinh ở lợn tại Thái Nguyên và Bắc Kạn thuộc giống Trichocephalus, loài Trichocephalus suis. Các chỉ số hình thái đo đạc trên giun đực, giun cái và trứng hoàn toàn tương đồng với các mô tả chuẩn của Skrjabin (1996) và Mozgovoi (1979).
- Đặc điểm dịch tễ:
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm qua mổ khám và xét nghiệm phân tại các huyện thuộc 2 tỉnh nghiên cứu cho thấy sự phân bố rộng rãi của mầm bệnh trên đàn lợn địa phương.
- Phân tích dịch tễ theo tuổi: lợn ở lứa tuổi 2 - 4 tháng tuổi có tỷ lệ và cường độ nhiễm cao nhất; lợn con theo mẹ dưới 1 tháng tuổi ít hoặc không nhiễm; lợn trưởng thành và lợn nái có tỷ lệ nhiễm thấp hơn và cường độ nhẹ.
- Phân tích theo mùa vụ: vụ Hè - Thu có tỷ lệ và cường độ nhiễm cao hơn rõ rệt so với vụ Đông - Xuân, do nhiệt độ và độ ẩm mùa hè thúc đẩy trứng phân chia phôi bào nhanh chóng.
- Phân tích theo phương thức chăn nuôi và vệ sinh thú y: phương thức chăn nuôi thả rông và bán thâm canh có tỷ lệ nhiễm cao hơn chăn nuôi tập trung; chuồng trại vệ sinh kém làm gia tăng mức độ ô nhiễm trứng giun trên nền chuồng, đất vườn và nguồn rau thức ăn xanh.
- Bệnh học thực nghiệm và tự nhiên:
- Trên lợn gây nhiễm: xác định chính xác thời gian hoàn thành vòng đời của T. suis, diễn biến đào thải trứng qua phân theo các tuần sau gây nhiễm.
- Lâm sàng: lợn nhiễm biểu hiện giảm ăn, lông dựng, phân nát đến tiêu chảy phân lỏng có lẫn chất nhầy, lợn chậm lớn và còi cọc.
- Huyết học: số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố giảm rõ rệt (biểu hiện thiếu máu); tỷ lệ bạch cầu ái toan trong máu tăng cao trong giai đoạn ấu trùng xâm nhập và giun phát triển.
- Bệnh tích đại thể và vi thể: niêm mạc manh tràng và kết tràng sưng đỏ, viêm xuất huyết, có nhiều điểm hoại tử cục bộ nơi đầu giun cắm sâu vào lớp biểu mô; tiêu bản vi thể cho thấy sự phá hủy cấu trúc tuyến ruột và thâm nhiễm dày đặc tế bào viêm.
- Khảo sát trên lợn tiêu chảy tự nhiên cho thấy tỷ lệ và cường độ nhiễm T. suis ở nhóm lợn tiêu chảy cao hơn đáng kể so với nhóm lợn khỏe mạnh bình thường.
- Biện pháp phòng trị:
- Đánh giá tác dụng diệt trứng của các loại thuốc sát trùng trong mùa hè.
- Xác định động thái sinh nhiệt của 4 công thức ủ phân; chứng minh quá trình ủ phân sinh nhiệt (đạt nhiệt độ trên 45°C - 50°C) có khả năng tiêu diệt 100% trứng giun T. suis sau thời gian ủ thích hợp, trong đó công thức ủ compost cho hiệu quả sinh nhiệt ổn định.
- Thử nghiệm thuốc tẩy giun đạt hiệu lực tẩy trừ cao, an toàn tuyệt đối cho đàn lợn thí nghiệm và thực địa.
- Áp dụng quy trình phòng trị thử nghiệm giúp giảm mạnh tỷ lệ nhiễm, giảm cường độ nhiễm và nâng cao rõ rệt khối lượng lợn ở lô thí nghiệm so với lô đối chứng qua các mốc theo dõi 1 tháng và 2 tháng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu tương đối có hệ thống, toàn diện về đặc điểm sinh học, dịch tễ học và bệnh lý học của loài giun tròn Trichocephalus suis ký sinh trên đàn lợn tại hai tỉnh miền núi phía Bắc (Thái Nguyên và Bắc Kạn).
- Cung cấp các dẫn liệu khoa học chính xác về chu kỳ phát triển, thời gian hoàn thành vòng đời, diễn biến bài xuất trứng, các biến đổi bệnh lý huyết học, bệnh tích đại thể và biến đổi vi thể ở cơ quan tiêu hóa của lợn do T. suis gây ra trong điều kiện gây nhiễm thực nghiệm và nhiễm tự nhiên.
- Làm sáng tỏ các yếu tố dịch tễ học đặc trưng (lứa tuổi, mùa vụ, phương thức chăn nuôi, điều kiện vệ sinh thú y, mức độ ô nhiễm ngoại cảnh) chi phối sự lưu hành của bệnh giun roi lợn tại vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá cụ thể hiệu lực của các loại hóa chất sát trùng và xác định các công thức ủ phân sinh nhiệt có khả năng tiêu diệt triệt để trứng giun Trichocephalus suis, xử lý triệt để nguồn lây nhiễm từ chất thải chăn nuôi ra môi trường.
- Xác định được loại thuốc tẩy giun có hoạt lực cao, an toàn và liều dùng thích hợp đối với bệnh giun roi ở lợn.
- Xây dựng thành công quy trình kỹ thuật phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn mang tính khả thi, dễ áp dụng. Kết quả thử nghiệm trên diện rộng chứng minh quy trình giúp hạ thấp tỷ lệ nhiễm, giảm cường độ nhiễm giun, hạn chế hội chứng tiêu chảy và cải thiện rõ rệt tốc độ tăng trọng của lợn nuôi tại các nông hộ và trang trại ở Thái Nguyên, Bắc Kạn cũng như các tỉnh có điều kiện sinh thái tương đồng.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Khuyến nghị các cơ quan khuyến nông và trạm thú y địa phương tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi áp dụng đồng bộ quy trình phòng trị: tẩy giun định kỳ bằng thuốc chuyên dụng, kết hợp vệ sinh tiêu độc chuồng trại và ủ phân sinh nhiệt trước khi sử dụng bón cho cây trồng.
- Chú trọng công tác phòng bệnh cho lợn ở giai đoạn sau cai sữa (2 - 4 tháng tuổi) và tăng cường các biện pháp phòng ngừa vào giai đoạn chuyển mùa Hè - Thu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phạm vi dữ liệu được trình bày trong văn bản luận án, các hạn chế và định hướng tiếp theo bao gồm:
- Luận án tập trung khảo sát chủ yếu trên địa bàn hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn; các chỉ tiêu dịch tễ phản ánh đặc trưng của vùng miền núi và trung du phía Bắc, cần được mở rộng khảo sát so sánh tại các vùng sinh thái nông nghiệp khác.
- Nghiên cứu định danh loài dựa trên các đặc điểm hình thái học, cấu tạo cơ quan sinh dục và kích thước hiển vi truyền thống; chưa mở rộng ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử (giải trình tự gen) để so sánh chi tiết biến dị di truyền giữa các chủng Trichocephalus suis địa phương với các chủng giun roi trên người (Trichuris trichiura) tại các điểm chăn nuôi.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc giám sát dịch tễ học phân tử chuyên sâu, nghiên cứu khả năng kháng thuốc tẩy giun của quần thể giun tròn đường tiêu hóa và tối ưu hóa các chế phẩm sinh học xử lý phân quy mô công nghiệp lớn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y, Ký sinh trùng học: Có thể tham khảo phương pháp luận chuẩn mực về mổ khám ký sinh trùng đường tiêu hóa, phương pháp gây nhiễm thực nghiệm, kỹ thuật xét nghiệm phân đếm trứng và quy trình đánh giá tổn thương mô bệnh học vi thể.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Sử dụng các dẫn liệu hình thái, vòng đời và số liệu biến đổi huyết học của T. suis làm học liệu giảng dạy môn Ký sinh trùng thú y và Bệnh học thú y.
- Cán bộ quản lý thú y, khuyến nông viên tại các địa phương: Tham khảo số liệu dịch tễ học và quy trình phòng trị mẫu để xây dựng kế hoạch kiểm soát dịch bệnh ký sinh trùng đường ruột trên đàn gia súc tại địa phương.
- Chủ trang trại và người chăn nuôi lợn: Nắm bắt được thời điểm cảm nhiễm mầm bệnh cao nhất (giai đoạn lợn con 2 - 4 tháng tuổi) và kỹ thuật ủ phân sinh nhiệt để ngăn ngừa hiện tượng tái nhiễm giun sán trong trại nuôi.
Câu hỏi thường gặp
1. Vị trí ký sinh chủ yếu của giun tròn Trichocephalus suis trong đường tiêu hóa của lợn là ở đâu? Giun tròn Trichocephalus suis ký sinh chủ yếu tại ruột già của lợn, đặc biệt tập trung ở manh tràng (manh tràng và kết tràng), với phần đầu mảnh như sợi tóc cắm sâu vào lớp niêm mạc ruột để hút chất dinh dưỡng và máu, gây tổn thương niêm mạc.
2. Quá trình phát triển của trứng giun Trichocephalus suis ở ngoại cảnh chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi yếu tố nào? Nhiệt độ và ẩm độ của môi trường ngoại cảnh là yếu tố then chốt. Ở nhiệt độ thuận lợi (37,5°C), trứng phát triển thành trứng chứa ấu trùng có sức gây bệnh trong 18 ngày; ở 33°C mất khoảng 22 - 25 ngày; trong khi ở nhiệt độ thấp dao động 6,1 - 24,5°C, thời gian này kéo dài nhiều tháng. Trứng có sức đề kháng cao nhưng dễ bị tiêu diệt bởi ánh nắng khô ráo và nhiệt độ cao trên 45°C - 50°C trong quá trình ủ phân sinh nhiệt.
3. Lứa tuổi nào của lợn có tỷ lệ và mức độ mẫn cảm với giun Trichocephalus suis cao nhất? Theo các kết quả điều tra và tổng quan tài liệu trong luận án, lợn ở lứa tuổi từ 2 đến 4 tháng tuổi (giai đoạn lợn choai sau cai sữa) có tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Trichocephalus suis cao nhất. Lợn dưới 1 tháng tuổi ít khi nhiễm, còn lợn trưởng thành và lợn nái có tỷ lệ nhiễm thấp hơn do có sức đề kháng tốt hơn.
4. Bệnh do giun Trichocephalus suis gây ra những biến đổi bệnh lý và lâm sàng đặc trưng nào trên lợn? Về lâm sàng, lợn bệnh có biểu hiện ăn kém, lông dựng xơ xác, còi cọc, chậm lớn, tiêu chảy mạn tính phân nát hoặc phân lỏng có chất nhầy. Về huyết học, số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố suy giảm (thiếu máu), bạch cầu ái toan tăng cao. Về giải phẫu bệnh, niêm mạc manh tràng viêm đỏ, xuất huyết và có các ổ tổn thương hoại tử nông tại vị trí đầu giun cắm vào.
5. Giải pháp nào được luận án khẳng định có hiệu quả triệt để trong việc tiêu diệt mầm bệnh trứng giun ở môi trường chăn nuôi? Luận án khẳng định kỹ thuật ủ phân sinh nhiệt (đặc biệt là công thức ủ compost đạt nhiệt độ trên 45°C - 50°C sau vài tuần) có khả năng tiêu diệt 100% trứng giun Trichocephalus suis trong khối phân, kết hợp với việc dùng hóa chất sát trùng tiêu độc chuồng trại định kỳ và sử dụng thuốc tẩy giun đặc hiệu để cắt đứt nguồn phát tán mầm bệnh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngà là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về loài giun tròn Trichocephalus suis trên đàn lợn tại tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Đề tài đã hệ thống hóa các đặc điểm hình thái học, đặc điểm dịch tễ học theo lứa tuổi, mùa vụ, phương thức chăn nuôi và làm sáng tỏ bệnh lý lâm sàng, huyết học và giải phẫu vi thể của bệnh. Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng và kiểm chứng thành công quy trình phòng trị bệnh kết hợp giữa thuốc tẩy giun chuyên dụng, hóa chất khử trùng và kỹ thuật ủ phân sinh nhiệt diệt mầm bệnh, mang lại hiệu quả thực tiễn cao cho ngành chăn nuôi lợn tại các tỉnh miền núi phía Bắc.