phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, danh mục các hình, các bảng và phụ lục, nội dung chính của luận văn g m 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về ảnh hƣởng của các nhân tố đến việc CBTTXH - Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu - Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kết luận 8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 8. Các nghiên cứu nước ngoài Ở các nƣớc, đã c rất nhiều nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu về việc CBTTXH, cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm. Một số nghiên cứu tiêu biểu nhƣ: Khaled Hussainey (2011) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc CBTTXH bằng cách thu thập và phân tích dữ liệu của 111 công ty niêm yết trên TTCK Ai Cập trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2010.
Nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hƣởng đến việc CBTTXH g m: quy mô công ty, khả năng sinh lời, tính thanh khoản, cơ cấu vốn, loại hình sở hữu và công ty kiểm toán. Qua kết quả thu thập, các tác giả nhận thấy rằng khả năng sinh lời của công ty là nhân tố quan trọng nhất ảnh hƣởng tích cực đến việc CBTTXH. Bên cạnh đ việc báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán bởi công ty kiểm toán không thuộc “ ig Four” cũng c ảnh hƣởng đến việc công bố thông tin theo hƣớng công bố ít thông tin hơn, nhƣng ảnh hƣởng này là tƣơng đối yếu. Ngoài ra, các tác giả không nhận thấy có mối quan hệ nào giữa các nhân tố 6 quy mô công ty, tính thanh khoản, cơ cấu vốn, loại hình sở hữu với việc CBTTXH.
Isabel (2015) nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến CBTTXH g m: Qui mô công ty, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, đổi mới, chỉ số phát triển bền vững Dow Jones (DJSI), pháp luật dân sự. Qua kết quả phân tích, tác giả thấy rằng qui mô công ty là nhân tố có ảnh hƣởng nhất theo hƣớng tích cực đến CBTTXH. Đòn bẩy tài chính chỉ ảnh hƣởng đến việc công bố thông tin kinh tế. DJSI và pháp luật dân sự chỉ c tác động đến việc tiết lộ thông tin môi trƣờng.
Trong khi đ nhân tố khả năng sinh lời không ảnh hƣởng đến CBTTXH doanh nghiệp. Sadia Majeed và cộng sự (2015) nghiên cứu tác động của các nhân tố đến việc CBTTXH của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi Pakistan, với số lƣợng mẫu nghiên cứu là 100 công ty cho giai đoạn 5 năm từ 2007 đến 2011. Các tác giả đã xây dựng mô hình và phân tích dữ liệu của các nhân tố g m: sự độc lập của hội đ ng quản trị, sự tập trung quyền sở hữu, quy mô hội đ ng quản trị, lãnh đạo nữ, sở hữu của tổ chức, quản lý ngƣời nƣớc ngoài, quy mô công ty và khả năng sinh lời nhằm xem xét ảnh hƣởng đến việc CBTTXH. Qua kết quả phân tích, các tác giả thấy rằng các nhân tố có liên kết cùng chiều với việc CBTTXH bao g m: sự tập trung quyền sở hữu, quy mô hội đ ng quản trị, sở hữu của tổ chức và quy mô công ty, trong đ nhân tố quy mô hội đ ng quản trị có quan hệ chặt chẽ nhất.
Nghiên cứu này cũng cung cấp một mối liên hệ đáng kể giữa nhân tố sở hữu của tổ chức, sự tập trung quyền sở hữu và quy mô công ty với việc CBTTXH. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự độc lập của hội đ ng quản trị, lãnh đạo nữ, quản lý ngƣời nƣớc ngoài và khả năng sinh lời không có mối liên hệ với việc CBTTXH tại Pakistan. Mohd Asri Mohd Ali và Ruhaya Hj Atan (2013) nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng CBTTXH của 60 công ty bền vững cao của Malaysia và 60 7 công ty bền vững toàn cầu. Kết quả phân tích h i quy đa biến cho thấy các nhân tố quy mô, sự độc lập của hội đ ng quản trị và sự tập trung chủ sở hữu có mối quan hệ rõ nét với việc CBTTXH của các công ty đƣợc nghiên cứu.
Trong khi sự kiêm nhiệm của giám đốc điều hành và ban kiểm toán lại không có mối quan hệ rõ ràng. Nghiên cứu của Hirschland (2006), “Corporate Social Responsibility and the Shaping of Global Public Policy”, Hardcover (Dec. Tác giả bàn về tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội trong công ty nhƣ: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới – sự hiểu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội thực hành đáp ứng lý thuyết – quản trị toàn cầu và mạng lƣới chính sách công cộng toàn cầu. Trong khi đ , nghiên cứu của Oyvind Ihlen và cộng sự “Public Relations and Social Theory: Key Figures and Concepts” (Routledge Communication Series) bàn về vấn đề: Quan hệ công chúng và lý thuyết xã hội nới rộng phạm vi lý thuyết của quan hệ công chúng.
Từ đ tập trung vào khái niệm nhƣ niềm tin, tính hợp pháp, sự hiểu biết, và phản xạ, cũng nhƣ về các vấn đề về hành vi, năng lƣợng, và ngôn ngữ. Quan điểm của Muhammad Yunus tại “ uilding Social Business: The New Kind of Capitalism That Serves Humanity‟s Most Pressing Needs”, tác giả lại muốn giúp các doanh nghiệp thấy đƣợc vai trò của hoạt động kinh doanh. Qua những gƣơng điển hình mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn tới vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Một nghiên cứu thực nghiệm tại nƣớc Châu Á, là nghiên cứu của Chau và Gray (2002) “Ownership structure and corporate voluntary disclosure in Hong Kong and Singapore” về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu vốn và CBTT tự nguyện tại H ng Kông và Singapore.
Để xây dựng chỉ số CBTT tự nguyện, tác giả đã dựa trên danh mục phát triển bởi Meek và bổ sung một số mục cụ 8 thể hơn, việc trình bày danh mục đo lƣờng mức độ CBTT tự nguyện đƣợc trình bày ở phụ lục của nghiên cứu. Theo quan điểm riêng của tác giả, các mục bổ sung là phù hợp, có thể công bố bởi công ty nhằm thể hiện rõ ràng tình hình của công ty với ngƣời sử dụng thông tin trên báo cáo. Với phƣơng pháp định lƣợng, tác giả cũng sử dụng mô hình h i quy nhằm kiểm định mối liên hệ cấu trúc vốn ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Biến độc lập g m 06 biến: quy mô công ty, đòn bẩy nợ, số lƣợng thành viên kiểm toán, cấu trúc sở hữu, lợi nhuận, mức độ đa dạng của ngành nghề kinh doanh.
Kích thƣớc mẫu ở H ng Kông và Singapore lần lƣợt là 60 và 62 công ty niêm yết. Kiểm định hiện tƣợng đa cộng tuyến không xảy ra trong mô hình h i quy, với yêu cầu VIF cần nhỏ hơn 10. Kết quả cho thấy cấu trúc sở hữu có yếu tố bên ngoài và quy mô đa dạng thì có ảnh hƣởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, ngƣợc lại các công ty có yếu tố sở hữu nội bộ và sở hữu gia đình thì làm giảm chỉ số CBTT tự nguyện. Một nghiên cứu khác tại các nƣớc châu Á là nghiên cứu của Arifur Rahman Khan và cộng sự (2013), các tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin về trách nhiệm xã hội thông qua các báo cáo thƣờng niên của các công ty tại Bangladesh.
Các tác giả lựa chọn 135 công ty thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Dhaka của Bangladesh từ năm 2005 đến năm 2009 và sử dụng các nhân tố thuộc quản trị công ty bao g m: sở hữu của các nhà quản lý, sở hữu đại chúng, sở hữu nƣớc ngoài, sự độc lập của hội đ ng quản trị, sự kiêm nhiệm của giám đốc điều hành và sự hiện diện của ban kiểm toán. Kết quả nghiên cứu tìm thấy một mối quan hệ quan trọng và tích cực giữa sở hữu của các nhà quản lý với mức độ CBTTXH. Nghiên cứu cũng tìm thấy rằng sở hữu đại chúng, sở hữu nƣớc ngoài, sự độc lập của hội đ ng quản trị và sự hiện diện của ban kiểm toán có những tác động đáng kể và tích cực đến mức độ 9 CBTTXH của các doanh nghiệp. Nhân tố còn lại là sự kiêm nhiệm của giám đốc điều hành không c tác động đáng kể đến mức độ CBTTXH của các doanh nghiệp nghiên cứu.
Cũng tại châu Á, Murya Habbash (2016) nghiên cứu về mức độ công bố thông tin về trách nhiệm xã hội và ảnh hƣởng của các nhân tố thuộc quản trị công ty đến mức độ CBTTXH của các doanh nghiệp tại Ả Rập Saudi. Nghiên cứu này khảo sát 267 báo cáo thƣờng niên của các công ty niêm yết tại Ả Rập Saudi trong giai đoạn từ 2007 đến 2011 bằng phƣơng pháp phân tích h i quy đa biến và sử dụng danh mục g m 17 chỉ tiêu công bố thông tin về trách nhiệm xã hội dựa trên tiêu chuẩn ISO 26000. Kết quả phân tích cho thấy mức độ CBTTXH bình quân của các doanh nghiệp này là 24%. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sở hữu của chính phủ, sở hữu của gia đình, quy mô công ty và tuổi công ty là các nhân tố có ảnh hƣởng tích cực đến mức độ CBTTXH, nhân tố hệ số nợ có sự ảnh hƣởng tiêu cực, trong khi ban kiểm toán, sự độc lập của hội đ ng quản trị, sự kiêm nhiệm của giám đốc điều hành, sở hữu của tổ chức, khả năng sinh lời và ngành nghề kinh doanh là các nhân tố không cho thấy có sự ảnh hƣởng đến mức độ CBTTXH của các doanh nghiệp nghiên cứu.
Do sự khác biệt về nhiều mặt giữa các quốc gia nhƣ văn h a, kinh tế, chính trị…cũng nhƣ khác biệt về thời điểm thu thập và phân tích số liệu. Các nghiên cứu tại mỗi nƣớc đã lựa chọn và phân tích các nhân tố khác nhau để tìm kiếm bằng chứng về sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến việc CBTTXH của các công ty. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, đã c một số tác giả nghiên cứu có liên quan đến trách nhiệm xã hội. Một vài nghiên cứu tiêu biểu nhƣ: 10 Bich Thi Ngoc Nguyen và cộng sự (2015) nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ CBTTXH với giá trị của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Các tác giả lựa chọn 50 doanh nghiệp niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và H Chí Minh từ năm 2010 đến 2013 và phân tích nội dung trong các báo cáo thƣờng niên do các doanh nghiệp công bố. Qua nghiên cứu cho thấy việc CBTTXH của các doanh nghiệp ở Việt Nam là chƣa phổ biến.