CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA 1. Các định nghĩa về văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực thu hút nhiều nhà nghiên cứu và có rất nhiều định nghĩa. Theo Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [6, tr.
Và định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới là của Hofstede (1997): “văn hóa là tập hợp những quan niệm, giá trị, niềm tin làm cho thành viên của một nhóm người này khác với nhóm người khác”. Như vậy với các định nghĩa trên, tác giả hiểu: Văn hóa là tập hợp những đặc trưng về giá trị, tri thức, niềm tin, lối sống của con người trong một xã hội cụ thể và nó mang tính kế thừa từ thế hệ trước. Các yếu tố cấu thành văn hóa Như đã đề cập ở trên về khái niệm văn hóa. Văn hóa là một khái niệm rất rộng nên xét đến các yếu tố cấu thành văn hóa cũng tùy thuộc vào các khía cạnh khác nhau về văn hóa.
Với nhận định khái niệm văn hóa được nêu trên, tác giả hệ thống hóa những thành tố cấu thành nên văn hóa như sau: Cấu trúc xã hội: Cấu trúc xã hội là khuôn khổ tổng thể mà xác định vai trò của các cá nhân trong xã hội, sự phê chuẩn của xã hội, và tính di động của các cá nhân trong xã hội [32, tr. Ngôn ngữ: Ngôn ngữ là một hế thống tín hiệu. Trong sự phát triển của văn hóa, ngôn ngữ bao giờ cũng là một công cụ, một phương tiện có tác động nhạy cảm nhất [8, tr. 6 Tôn giáo: Tôn giáo định hình thái độ môn đồ của nó đối với công việc, tiêu dùng, trách nhiệm cá nhân, và lập kế hoạch cho tương lai [32, tr.
Tín ngưỡng: Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người [8, tr. Lễ hội: Là những sinh hoạt của người dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho họ một mùa màng đã qua, vừa cầu xin thần linh phù hộ cho một mùa màng sắp tới [8, tr. Giá trị và thái độ: Giá trị là những nguyên tắc và tiêu chuẩn được chấp nhận bởi các thành viên; thái độ bao gồm các hành động, cảm xúc và những suy nghĩ là kết quả từ những giá trị [32, tr. Vai trò, các đặc điểm văn hóa đối với sự phát triển của quốc gia a.
Các giá trị văn hóa Nghiên cứu về văn hóa rất đa dạng, văn hóa thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, với phạm vi đề tài này, tác giả đề cập đến khía cạnh những giá trị văn hóa dùng để nghiên cứu trong kinh doanh. Các học giả đã nhận diện một số khía cạnh văn hóa khác nhau nhằm phân biệt văn hóa giữa các quốc gia. Theo nghiên cứu của Hofstede có các chiều hướng văn hóa phổ biến như: Khoảng cách quyền lực: Chiều văn hóa này liên quan đến mức độ bình đẳng/bất bình đẳng giữa người với người trong một xã hội bất kỳ nào đó [36].
Một quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn sẽ chấp nhận và kéo dài sự bất bình đẳng, có sự phân chia đẳng cấp rõ ràng, người dân phải phục tùng lãnh đạo, nhân viên luôn làm theo sự hướng dẫn cấp trên, học sinh nghe theo lời thầy cô chứ không có ý kiến cá nhân và con cái không được cãi lời cha mẹ. Ngược lại, với quốc gia có khoảng cách quyền lực thấp sẽ tôn trọng sự bình 7 đẳng, mọi người có quyền đưa ra ý kiến cá nhân, thẳng thắn nêu lên suy nghĩ của mình (xem bảng 1. Mười sự khác nhau giữa khoảng cách quyền lực nhỏ và lớn Khoảng cách quyền lực nhỏ Khoảng cách quyền lực lớn Sử dụng quyền lực cần phải hợp pháp và Quyền lực là một thực tế cơ bản của xã phải tuân theo chuẩn mực của thiện và ác. hội tốt hay xấu trước đó: tính hợp pháp của nó là không thích hợp.
Cha mẹ đối xử ngang bằng với con cái. Cha mẹ dạy con vâng lời. Những người già không được tôn trọng và Những người già đều được tôn trọng và cũng không có quyền lực. Giáo dục học sinh làm trung tâm.
Đào tạo giáo viên làm trung tâm. Hệ thống phân cấp có nghĩa là bất bình Hệ thống phân cấp có nghĩa là bất bình đẳng xuất hiện do các quy tắc được thiết đẳng hiện sinh. lập cho sự tiện lợi. Cấp dưới mong đợi để được tư vấn.
Cấp dưới mong đợi để được bảo phải làm gì. Chính phủ đa nguyên dựa trên đa số phiếu Các chính phủ độc đoán dựa trên kết nạp và thay đổi một cách hòa bình. và thay đổi bởi cuộc cách mạng. Tham nhũng hiếm; vụ bê bối chính trị kết Tham nhũng thường xuyên; vụ bê bối thúc sự nghiệp.
đang bao phủ lên. Phân phối thu nhập trong xã hội một cách Phân phối thu nhập trong xã hội rất sòng phẳng. không đồng đều. Tôn giáo nhấn mạnh sự bình đẳng của các Tôn giáo với một hệ thống phân cấp của tín hữu.9]) Né tránh sự không chắc chắn: Chiều văn hóa này nói lên mức độ sẵn sàng chấp nhận những thay đổi, những điều mới mẻ của một cộng đồng [36].
Một quốc gia có điểm số cao về né tránh sự không chắc chắn sẽ không sẵn sàng chấp nhận những điều mới lạ, những thay đổi mà họ chưa từng trải nghiệm. Kết quả là những xã hội như thế thường sống theo truyền thống, các luật định và suy nghĩ, luôn trong tư thế bỏ qua những điều mơ hồ, không rõ ràng và sống trong sự lo âu. Như vậy, các tư tưởng mới thường khó xâm nhập vào quốc gia có điểm số né tránh sự không chắc chắn cao. Đối với quốc gia 8 có điểm số thấp về né tránh sự không chắc chắn xem rủi ro, bất thường là vấn đề hiển nhiên cần phải đối mặt.
Họ sẵn sàng chấp nhận thay đổi và thử nghiệm. Trong xã hội như thế, các giá trị được coi là truyền thống sẽ thay đổi thường xuyên, và ít gò bó bởi các luật định trước (xem bảng 1. Mười sự khác nhau giữa né tránh không chắc chắn yếu và mạnh Ít né tránh điều không chắc chắn Né tránh sự không chắc chắn nhiều Sự không chắc chắn vốn có trong cuộc Sự không chắc chắn vốn có trong cuộc sống được chấp nhận (mỗi ngày là cần sống được cảm nhận như là một mối đe thiết vì nó luôn đi kèm). dọa liên tục cần phải đấu tranh.
Bình thản, stress thấp hơn, tự chủ, lo âu Stress cao hơn, hay xúc động, lo âu, loạn thấp. Điểm số cao hơn về sức khỏe và hạnh Điểm số thấp hơn về sức khỏe và hạnh phúc chủ quan. phúc chủ quan. Khoan dung với người khác và có tư Không khoan dung cho người khác và có tưởng: những gì khác nhau là tò mò.
tư tưởng: những gì khác nhau là nguy hiểm. Thoải mái với sự mơ hồ và hỗn loạn. Nhu cầu sự rõ ràng và cụ thể. Giáo viên có thể nói “tôi không biết”.
Giáo viên phải có tất cả các câu trả lời. Thay đổi công việc không có vấn đề. Duy trì trong công việc ngay cả khi không thích. Không thích các quy tắc bằng văn bản Nhu cầu tình cảm cho các quy tắc - thậm hoặc bất thành văn.
chí nếu không vâng lời. Trong chính trị, người dân cảm nhận và Trong chính trị, người dân cảm nhận và được xem là có thẩm quyền đối với cơ được xem là không đủ năng lực về phía quan chức năng. chính quyền. Trong tôn giáo, triết học và khoa học: Trong tôn giáo, triết học và khoa học: thuyết tương đối và chủ nghĩa kinh niềm tin vào chân lý tối hậu và các lý nghiệm.10]) Chủ nghĩa cá nhân: Chiều văn hóa này liên quan đến mức độ mà một xã hội chấp nhận chủ nghĩa cá nhân hay yêu cầu mọi người phải sống vì tập thể [36].
Một quốc gia có chỉ số cao về chủ nghĩa cá nhân có nghĩa là mỗi cá nhân, các quyền cá nhân được tôn trọng và ý tưởng cá nhân được khuyến khích. Trong xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân, mỗi người chỉ chăm lo cho 9 cuộc sống của mình và của gia đình gần gũi nhất với mình. Ngược lại, tại các quốc gia có điểm thấp về chủ nghĩa cá nhân, con người từ khi sinh ra đã buộc phải hòa nhập vào một cộng đồng rộng lớn hơn, thường là trong gia đình với nhiều thế hệ. Trong cộng đồng như thế, mỗi thành viên thường phải có trách nhiệm với cộng đồng/tập thể và luôn đề cao mối quan hệ tập thể, không nên tự ý nêu lên ý kiến nếu không có sự thông qua trước của nhóm (xem bảng 1.
Mười sự khác nhau giữa chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa tập thể Mọi người đều có nghĩa vụ phải chăm Mọi người đều trung thành đối với gia đình sóc chính mình và gia đình trực tiếp mở rộng hoặc thị tộc đã bảo vệ họ. Ý thức “cái tôi” Ý thức “Chúng tôi” Quyền riêng tư Căng thẳng về sự phụ thuộc Nói ra tâm trí của một người là lành Hoà hợp luôn cần được duy trì với người mạnh. Những người khác nhau được phân Những người khác nhau được phân loại như loại như cá nhân. trong nhóm hoặc ngoài nhóm.
Ý kiến cá nhân dự kiến: mỗi người Các ý kiến và phiếu được xác định trước bởi một phiếu. cùng trong nhóm. Khi vi phạm các chuẩn mực có cảm Khi vi phạm của chuẩn mực có cảm giác giác tội lỗi. Trong ngôn ngữ, chữ “Tôi” là không Trong ngôn ngữ thường né tránh chữ “Tôi”.
Mục đích của giáo dục là học cách Mục đích của giáo dục là học cách làm. Nhiệm vụ chiếm ưu thế trên mối quan Mối quan hệ chiếm ưu thế hơn nhiệm vụ.11]) Nam tính - nữ tính: Chiều văn hóa này nói lên mức độ xã hội chấp nhận hay không chấp nhận quyền lực truyền thống của người đàn ông trong xã hội [36]. Những quốc gia có điểm Nam tính cao chỉ ra quốc gia đó có sự phân biệt giới tính. Trong các xã hội như thế, có xu hướng coi trọng cạnh 10 tranh, sự quyết đoán, tham vọng và đàn ông thống trị phần lớn quyền lực gia đình và xã hội.
Trong xã hội có điểm Nam tính thấp, phụ nữ được đối xử bình đẳng với nam giới trong mọi khía cạnh. Cả nam và nữ đều chú trọng vào việc duy trì vai trò, sự phụ thuộc lẫn nhau (xem bảng 1.