MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiếp của đề tài Cây đậu tƣơng (Glycine max. L) thuộc cây họ đậu, là cây công nghiệp ngắn ngày. Nó đƣợc xem là “cây thần diệu”, còn đƣợc ví là “vàng mọc từ đất”… sở dĩ cây đậu tƣơng đƣợc đánh giá cao nhƣ vậy là do giá trị kinh tế của nó mang lại lớn.
Giá trị kinh tế của cây đậu tƣơng đƣợc quyết định bởi các trành phần dinh dƣỡng quan trọng chứa trong hạt đậu tƣơng bao gồm: Protein chiếm khoảng 36-46%, lipit biến động từ 16-24%, gluxit 10-15%. Trong hạt đậu tƣơng chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các axit amin không thay thế nhƣ triptophan, leuxin, Izoloxin, valin, lizin, methionin. Ngoài ra còn các loại muối khoáng nhƣ Ca, Fe, Mg, Na, P, K…. Protein của đậu tƣơng có phẩm chất tốt, có thể thay thế hoàn toàn đạm động vật trong khẩu phần ăn hàng ngày của con ngƣời.
Đậu tƣơng còn đƣợc chế biến thành 600 loại thực phẩm khác nhau, bao gồm các loại thức ăn cổ truyền: đậu phụ, tƣơng chao, sữa đậu nành. ngoài ra còn có thể chế biến thành keo bánh đậu tƣơng và các loại thịt nhân tạo… (Trần Đình Long, 2000)[5] tất cả các loại sản phẩm đều thơm ngon và có giá trị dinh dƣỡng cao. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, sản lƣợng và diện tích gieo trồng đậu tƣơng đang có xu hƣớng giảm mạnh trong 3 năm gần đây.390 nghìn ha đậu tƣơng đƣợc gieo trồng cho khoảng 266 nghìn tấn. Đến năm 2012 sản lƣợng chỉ còn khoảng 175 nghìn tấn và diện tích còn trên 120,8 nghìn ha.
Do điều kiện thời tiết không thuận lợi đã khiến sản lƣợng đậu tƣơng năm 2013 giảm xuống còn 117.2 nghìn ha với 173,7 nghìn tấn.4 nghìn ha với 156.5 nghìn tấn và đến năm 1015 diên tích sản xuất chỉ còn khoảng 100 nghìn ha đậu tƣơng đƣợc gieo trồng cho khoảng 147 nghìn tấn. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ so với các loại cây trồng khác c 2 chính là nguyên nhân khiến ngành đậu tƣơng vẫn không đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu thụ trong nƣớc (Lúa gần 8 triệu ha; Ngô hơn 1triệu ha) (Tổng cục thống kê, 2017) [11]. Việt Nam đang nhập khẩu đậu tƣơng với số lƣợng lớn, khoảng 1,2 triệu tấn một năm. Theo số liệu thống kê chính thức của chính phủ, đậu tƣơng đƣợc trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nƣớc, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam.
Khoảng 65% đậu tƣơng nƣớc ta đƣợc trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ; và 35% đƣợc trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Đậu tƣơng đƣợc trồng cả 3 vụ trong năm (vụ xuân, vụ hè và vụ đông), trong đó vụ hè thu là vụ trồng chính. Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc với tổng diện tích đất tự nhiên 353318, 91 ha; trong đó diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp chiếm trên 30% (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2013). Đậu tƣơng là một trong nhóm cây trồng hàng năm đƣợc tỉnh quan tâm chỉ đạo sản xuất.
Vì đậu tƣơng là cây trồng ngắn ngày, giá trị kinh tế, giá trị dinh dƣỡng cao; không quá kén đất; có thể gieo trồng cả 3 vụ; có khả năng cải tạo đất. Hơn nữa ngay trong địa bàn tỉnh có làng nghề sản xuất đậu phụ nổi tiếng tại huyện Võ Nhai. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tƣơng trong tỉnh luôn giảm (Năm 2005 diện tích là 3389 ha; năm 2010 là 1567 ha; năm 2011 là 1559 ha; năm 2012 là 1418 ha; năm 2013 là 1309 ha; đén năm 2014 diện tích trồng đậu tƣơng của tỉnh chỉ còn hơn 1.2 nghìn ha) (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2014), không đủ đậu tƣơng cung cấp cho ngay cả thị trƣờng trong tỉnh. Nguyên nhân chủ yếu của đậu tƣơng chƣa phát triển ở tỉnh Thái Nguyên là do giống và kỹ thuật canh tác còn kém.
Vì vậy muốn phát triển cây đậu tƣơng ở Thái Nguyên ta cần chú trọng đến hai vấn đề này. Giống là hƣớng đầu tƣ quan trọng hàng đầu có hiệu quả kinh tế trong ngành. Song bên c 3 cạnh đó, muốn phát huy đƣợc tiềm năng và phẩm chất của giống thì cần phải xác định đƣợc biện pháp kỹ thuật kết hợp bón phân hợp lý. Nguồn phân bón rất đa dạng, đòi hỏi ngƣời sản xuất đậu tƣơng phải biết sử dụng các loại phân bón phù hợp và sao cho đúng liều lƣợng, cân đối và bón đúng thời điểm mới tăng năng suất và chất lƣợng đậu tƣơng.
Xuất phát từ thực tiễn năng suất đậu tƣợng chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ: thời tiết, mùa vụ, giống phân bón .nhằm nâng cao năng suất của đậu tƣơng trong đó phƣơng thức bón phân ảnh hƣởng nhiều đến năng suất cây đâu tƣơng và biện pháp sử dụng phân bón vô cơ là biện pháp nhanh và rẻ tiền nhất,hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế ngƣời dân Việt Nam. Từ thực tiễn trên chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của lƣợng phân bón vô cơ đến sự sinh trƣởng và năng suất của giống đậu tƣơng ĐT51 vụ hè thu năm 2016 tại huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục đích của đề tài Xác định đƣợc liều lƣợng phân bón thích hợp cho sinh trƣởng và năng suất giống đậu tƣơng ĐT51 trồng vụ hè thu tại huyên Phú Lƣơng – tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đặc điểm nông sinh học của giống đậu tƣơng ĐT51 ở các liều lƣợng phân bón khác nhau.
- Đánh giá một số đặc điểm sinh lý của giống đậu tƣơng ĐT51 ở các liều lƣợng phân bón khác nhau. - Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống đậu tƣơng ĐT51 ở các liều lƣợng phân bón khác nhau. - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tƣơng ĐT51 ở các liều lƣợng phân bón khác nhau. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo (mật độ, phân bón, thời vụ) về giống đậu tƣơng ĐT51 ở các liều lƣợng phân bón khác nhau.
Ý nghĩa thực tiễn sản xuất: - Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tƣơng nói chung và quá trình canh tác trên địa bàn huyện Phú Lƣơng – tỉnh Thái Nguyên nói riêng. c 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài Cơ sở khoa học của đề tài Để đáp ứng nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm cho toàn cầu trong bối cảnh khí hậu và môi trƣờng sống ngày càng biến đổi phức tạp hiện nay, chúng ta cần xây dụng đƣợc một nền sản xuất tiên tiến. Dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới và các yếu tố nhƣ: Gống, nƣớc, phân bón, kỹ thuật thâm canh… nhƣng vẫn phải bảo vệ đƣợc môi trƣờng.
Trong đó, liều lƣợng phân bón là yếu tố quan trong, sử dung lƣợng phân bón hợp lý giúp cây có năng suất cao, chất lƣợng tốt, khả năng chống chịu sâu bênh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận.Và phải có khả năng cải tạo đƣợc đất, hạn chế ô nhiễm môi trƣờng đó là mục tiêu hàng đầu của việc phát triển một nghành nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao Để có đƣợc lƣợng phân bón thích hợp đối với từng giống đậu tƣơng trong từng vùng sản xuất thì công tác nghiên cứu, thử nghiệm lƣợng phân bón là vô cùng quan trọng. Đó là một cuộc thí nghiệm đƣa ra nhiều lƣợng phân bón khác nhau nhằm xác định ảnh hƣởng của yếu tố đó lên giống khác nhau nhƣ thế nào trong cùng một điều kiện của địa phƣơng, từ đó ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng, phát triển và năng suất của một giống đậu tƣơng. Nếu không nghiên cứu về lƣợng phân bón thích hợp đối với giống đậu tƣơng thì ta không thể tìm ra biện pháp phù hợp nhằm thâm canh tăng năng suất đậu tƣơng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế. Cơ sở thực tiễn của đề tài Sản xuất đậu tƣơng ở Thái Nguyên phát triển không mạnh do hiệu quả sản xuất chƣa cao.
Có nhiều nguyên nhân nhƣ năng suất thấp, đầu tƣ cao mà giá bán không cao, không ổn định, do sâu bệnh … Trong đó nguyên nhân c 6 chính là liều lƣợng phân bón chƣa thích hợp để tạo điều kiện cho cây đậu tƣơng có điều kiện sinh trƣởng phát triên và cho năng suất cao nhất, giảm đi chi phí về đầu tƣ giống, dinh dƣỡng, phòng trừ sâu bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế. giống đậu tƣơng ĐT51 là một giống mới đƣợc Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc nên chƣa có nhiều nghiên cứu về liều lƣợng phân bón thích hợp cho giống. Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng ta cần nghiên cứu liều lƣợng phân bón thích hợp đối với giống đậu tƣơng ĐT51 sao cho phù hợp với điều kiện của vùng, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân. Theo Trần Đình Long và Nguyễn Thị chinh (2005) [6] cho dù Việt Nam sẽ là thanh viên của WTO, việc nhập khẩu ngô, đậu tƣơng phục vụ phát triển chăn nuôi hiện nay sẽ trở thành việc bất hợp lý trong tƣơng lai vì tiềm năng trồng cây họ đậu trong nƣớc ta còn rất lớn, lao đọng nông nghiệp và đất tròng trọt còn rất tốt, những cây trồng tiết kiệm nƣớc đƣợc ƣu tiên phát triển trong đó cây đậu tƣơng.
Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh vùng núi phía Bắc điện tích đất hoang hóa càn nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nƣớc, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số cây trồng cho giá trị kinh tế thấp. Do đó việc đƣa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tƣơng nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết. Để tăng khả năng sửa dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho ngƣời dân, cải thiên đời sống cộng đồng. Nhƣng năm gần đây nƣớc ta đã chọn dƣớc một số giống mới có năng suất cao, chất lƣợng tốt chuyển giao vào sản xuất nhƣ: ĐT84, ĐT93, ĐT99, ĐT12, ĐT51… Nhờ vậy mà năng suất đậu tƣơng đã tăng lên song tốc đọ còn chậm, có nhiều nguyên nhân, nhƣng một trong nhƣng nguyên nhân đó là kỹ thuật canh tác còn lạc hậu không xác định đƣợc các yếu tố dinh dƣơng còn c 7 hạn chế, bón phân thiếu cân đối, năng suất thấp.
Vì vậy thiết nập công thức bón phân tìm ra công thức phân bón tối ƣu cho cây trồng là hết sức cần thiết.