Đặt vấn đề Re gừng là cây gỗ lớn, cao tới 30m, đƣờng kính có thể đạt 50cm. Vỏ ngoài màu nâu hay nâu sẫm, nhẵn, thịt vỏ màu nâu hay vàng nhạt, giòn và có mùi thơm. Cành non màu xanh đậm, khi già có màu nâu. Lá đơn mọc cách hoặc gần đối, hình mũi mác hay trái xoan thuôn, mặt trên nhẵn, mặt dƣới xanh bóng, dài 9-30cm, rộng 3,5-9cm, đỉnh có mũi nhọn, gốc hình nêm, 2 mặt nhẵn bóng, 3 gân gốc, gân bên kéo dài tới đỉnh.
Cuống dài 12-20mm. Cụm hoa chuỳ ở nách gồm nhiều xim, dài 20-25cm. Hoa lƣỡng tính có 2 dạng: Hoa giữa lớn hơn các hoa bên. Bao hoa có 6 mảnh, thuôn, có lông ở 2 mặt.
Nhị đực sinh sản 9, xếp 3 vòng, nhị thoái hoá 3, bao phấn 4 ô. Bầu hình trứng, nhẵn, vòi dài bằng bầu. Ra hoa tháng 3-5. Quả mọng, hình trứng,dài 1cm, gốc có bao hoa còn lại, màu đen.
Quả non màu xanh, lúc chín vỏ quả chuyển màu xanh đen, thịt quả màu tím nhạt, có 1 hạt màu nâu nhạt, chín vào tháng 2-3. Hạt có dầu, nếu gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng bất lợi, hạt dễ bị mất sức nảy mầm nhanh chóng. Re gừng là loài cây gỗ lớn, lá rộng thƣờng xanh, có giá trị cả về kinh tế, xã hội và môi trƣờng sinh thái, có phân bố khá rộng ở các nƣớc khu vực Đông Nam Á nhƣ Việt Nam, Lào và Campuchia. Ở nƣớc ta, Re gừng có phân bố trong các trạng thái rừng lá rộng thƣờng xanh từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ đến Tây Nguyên và Đồng Nai, thƣờng thấy phân bố ở độ cao dƣới 800m so với mực nƣớc biển (Forest Inventory and Planning Institute, 2009).
Re gừng là một trong những loài cây trồng rừng chính ở nƣớc ta trong những năm gần đây, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay. c 2 Tuy nhiên, trong thực tế trồng rừng loài cây này ở nhiều địa phƣơng trƣớc đây chƣa mấy thành công, có thể là do thiếu hiểu biết cơ bản về đặc điểm sinh vật học cũng nhƣ đặc điểm lâm học quần thể. Vì vậy, việc nghiên cứu một số đặc điểm lâm học quần thể và khả năng tái sinh của loài cây Re gừng là cần thiết, đặc biệt là tổ thành các loài cây trong quần thể tự nhiên, kể cả cấu trúc tổ thành của tầng cây cao và lớp cây tái sinh làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm phát triển loài cây này ở một số tỉnh miền núi phía Bắc. Để sản xuất đƣợc cây con cho trồng rừng đảm bảo cả về số lƣợng và chất lƣợng, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong gieo ƣơm.
Tuy nhiên trong quá trình gieo ƣơm có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của cây con, trong đó có chế độ tƣới nƣớc, xuất phát từ những vấn đề trên tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh trưởng của cây Re gừng giai đoạn vườn ươm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.Mục đích nghiên cứu Kết quả đề tài góp phần nhân giống cây con Re gừng cung cấp cho trồng rừng với mục đích lấy gỗ lớn. Mục tiêu nghiên cứu Xác định đƣợc số lần và liều lƣợng tƣới nƣớc phù hợp cho sinh trƣởng của câửne gừng trong giai đoạn vƣờn ƣơm. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp sinh viên củng cố thêm về những kiến thức đã đƣợc học.
- Học đƣợc cách sắp xếp bố trí công việc trong học tập nghiên cứu một cách khoa học. c 3 - Giúp ta làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và tạo tác phong làm việc độc lập khi ra thực tế. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả đề tài là cơ sở để đề xuất một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong sản xuất giống cây Re gừng trong giai đoạn vƣờn ƣơm. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Vai trò của nƣớc đối với cây: Nƣớc là thành phần quan trọng cấu trúc nên chất nguyên sinh. Nƣớc chiếm trên 90% khối lƣợng của chất nguyên sinh và nó quyết định tính ổn định của cấu trúc keo nguyên sinh chất. Bình thƣờng chất nguyên sinh ở trạng thái sol biểu hiện hoạt động mạnh. Nếu mất nƣớc thì hệ keo nguyên sinh chất có thể chuyển sang trạng thái coaxeva hay gel làm giảm mức độ hoạt động sống của tế bào và của cây.
Nƣớc tham gia và các phản ứng hóa sinh, các biến đổi chất trong tế bào. Nƣớc là dung môi đặc hiệu cho các phản ứng, vừa tham gia trực tiếp vào các phản ứng trong cây. Nƣớc cung cấp điện tử H+ cho việc khử C02 trong quang hợp, tham gia oxy hóa nguyên liệu hô hấp, tham gia quá trình phản ứng thủy phân… Nƣớc hòa tan các chất hữu cơ và các chất khoáng rồi vận chuyển đến tất cả các cơ quan cần thiết trong toàn cơ thể và tích lũy vào cơ quan dự trữ. Có thể nói nƣớc là mạch máu lƣu thông đảm bảo khâu điều hòa và phân phối vật chất trong cây, quyết định việc hình thành năng suất và kinh tế của cây trồng.
Nƣớc là chất điều chỉnh nhiệt trong cây. Khi gặp nhiệu độ cao, quá trình bay hơi nƣớc sẽ làm giảm nhiệt độ đặc biệt là của bộ lá, đảm bảo các hoạt động quang hợp và các chức năng sinh lý khác tiến hành thuận lợi. Đồng thời, quá trình thoát hơi nƣớc ở lá là động lực quan trọng nhất để hút nƣớc và chất khoáng từ đất cung cấp cho các bộ phận trên mặt đất. Nƣớc còn có chức năng dự trữ trong cây.
Các loại thực vật chịu hạn nhƣ các thực vật mọng nƣớc (CAM) có hàm lƣợng nƣớc dự trữ lớn, khí c 5 khổng đóng ban ngày nên có thể sống trong điều kiện khô hạn ở sa mạc, các đồi cát, đồi trọc thiếu nƣớc…. Hàm lƣợng nƣớc liên kết với thực vật này rất cao quyết đinh khả năng chống chịu của chúng đối với điều kiện bất thuận nhất là chịu nóng và chịu hạn. Tế bào thực vật duy trì một sức trƣơng P nhất định nhờ hấp thu bằng con đƣờng thẩm thấu vào không bào. Nhờ có sức trƣơng P lớn mà đảm bảo cho tế bào luôn ở trạng thái no nƣớc và cây ở trạng thái căng, tƣơi thuận lợi cho các hoạt động sinh lý và sinh trƣởng phát triển của cây.
Ngƣợc lại, nếu thiếu nƣớc thì sức trƣơng của tế bào giảm xuống, tế bào co lại gây hiện tƣợng héo của cây. Nhƣ vậy, nƣớc vừa tham gia cấu trúc nên cơ thể thực vật, vừa tham gia các biến đổi hóa sinh và các hoạt động sinh lý của cây, cũng nhƣ quyết định đến năng suất cây trồng. Khi thiếu nƣớc, tất cả các quá trình trao đổi vật chất và hoạt động sinh lý diễn ra trong cơ thể đều bị đảo lộn, quá trình sinh trƣởng và phát triển của cây bị kìm hãm, quá trình thụ phấn, thụ tinh không xảy ra làm giảm năng suất thực vật [3]. Nƣớc có vai trò quan trọng trong sự nảy mầm của hạt giống, nƣớc kích thích hệ thống enzim trong hạt, tạo ra sự cân bằng nƣớc, tăng cƣờng trao đổi chất và thúc đẩy cây sinh trƣởng.
Nhu cầu nƣớc của thực vật là lƣợng nƣớc cần thiết để đảm bảo mọi quá trình hoạt động của thực vật diễn ra bình thƣờng. Yêu cầu nƣớc đó là quan hệ của thực vật với điều kiện ẩm độ của hoàn cảnh và khả năng thích nghi với lƣợng nƣớc cần thiết trong điều kiện nhất định. Căn cứ vào mức độ quan hệ của thực vật ngƣời ta chia ra các nhóm thực vật nhƣ sau: c 6 Thực vật chịu hạn: là những thực vật mọc đƣợc ở nơi khô, có khả năng chịu hạn rất cao nhờ biện pháp thích ứng của nó. Thực vật chịu khô: trung gian giữa nhóm chịu hạn và ƣa ẩm trung bình.
Thực vật trung tính: yêu cầu độ ẩm trung bình và chúng có khả năng chống chịu hạn ở mức độ nhất định. Thực vật ƣa ẩm: yêu cầu độ ẩm trung bình và không chịu đƣợc khô hạn, ở nơi khô rễ của chúng kém phát triển, ăn nông, ít phân nhánh. Đối với nhóm chịu hạn chúng có ý nghĩa thiết thực đối với công tác trồng cây, chúng có khả năng chống lại điều kiện khô hạn bằng cách dựa vào tổ chức bảo vệ là lá có vẩy, lá cứng, có lông và tầng cutin để giữ nƣớc ở tế bào và giảm sự thoát hơi nƣớc, có hệ rễ phát triển để hút nƣớc. Mặt khác chúng có khả năng rút vào trạng thái ngủ nhanh khi gặp hạn và khi có nƣớc lại tiếp tục sinh trƣởng rất nhanh.
Các biện pháp tưới nước Có rất nhiều cách tƣới để lựa chọn cho phù hợp với cây re gừng. Vì thiết bị tƣới nƣớc rất đa dạng, địa hình ở các vùng trồng cũng khác nhau, độ dốc của đất, lƣợng nƣớc có sẵn cũng khác nhau. Các cách tƣới phổ biến cũng giống nhƣ tƣới cho cây ăn quả, có 2 cách tƣới chính. - Hệ thống tƣới phía trên cây có thể di động, bán di động hoặc cố định - Hệ thống tƣới dƣới gốc cây gồm bình phun loại nhỏ, máy tƣới bé, tƣới kiểu nhỏ giọt hoặc tƣới vào bồn.
Tất cả các cách tƣới trên đều đƣợc sử dụng để tƣới cà phê. Mỗi kiểu đều có mặt ƣu, mặt nhƣợc tƣơng quan về các mặt giá đầu tƣ, yêu cầu về lao động, chi phí cho vận hành, hiệu suất sử dụng nƣớc, dễ vận hành và bảo quản, hoặc tính linh động trong khi sử dụng. Cách lựa chọn các phƣơng pháp tƣới khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện thực tế (nhƣ vốn c 7 đầu tƣ, nhân công, địa hình, lƣợng nƣớc có sẵn trong thiên nhiên, chất lƣợng, độ cơ giới và những đặc điểm về kỹ thuật của trang thiết bị) trong từng giai đoạn riêng biệt. * Tưới nhỏ giọt Trong những năm gần đây kỹ thuật tƣới nhỏ giọt đƣợc đánh giá cao về mặt tiết kiệm nƣớc.
Hệ thống tƣới gồm có máy bơm, bể chứa phân bón, máy lọc, đƣờng ống dẫn, vòi nhỏ giọt (dripper) và các van phân phối nƣớc. Trong kỹ thuật tƣới nhỏ giọt, nƣớc đƣợc cung cấp cho từng khoảnh đất trên cánh đồng và tập trung ở phần hoạt động chủ yếu của bộ rễ cây trồng. Kỹ thuật tƣới nhỏ giọt có những thuận lợi sau: - Tiết kiệm nƣớc: Do nƣớc đƣợc cung cấp trực tiếp đến phần rễ cây nên tránh đƣợc tổn thất nƣớc, thông thƣờng có thể tiết kiệm đƣợc 20-30% lƣợng nƣớc so với tƣới phun mƣa hay tƣới tràn.