Chương 1 THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN QUY ĐỊNH NĂNG LỰC TƯ DUY CỦA HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ 1. Thực chất năng lực tư duy của học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị 1. Quan niệm về năng lực tư duy Năng lực là một phạm trù dùng để chỉ đặc trưng riêng vốn có của con người. Song khi tiếp cận và luận giải vấn đề này thì mỗi ngành khoa học, mỗi công trình nghiên cứu đều có phương pháp và cách thức luận giải khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt, năng lực được hiểu là:“khả năng, điều kiện chủ quan hoặc điều kiện tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”, “là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [54, tr. Theo Từ điển Giáo dục học quân sự: “Năng lực được hình thành hoặc phát triển, cho phép một con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp” [53, tr. Dưới góc độ tâm lý học quân sự: “năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm bảo đảm cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao” [52, tr. Theo Từ điển Triết học: “Năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lý con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử” [55, tr.
Như vậy, mỗi ngành khoa học, lĩnh vực nghiên cứu khi xem xét về năng lực đều có cách nhìn riêng. Trong tâm lý học chủ yếu nhấn mạnh vai trò tâm lý trong quan niệm về năng lực. Năng lực được hình thành trên cơ sở tư chất tự nhiên của cá nhân. Hay nói cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ xảo và kỹ năng tối thiểu, là cái người đó có thể dùng khi sinh hoạt.
Còn xã hội học nghiên cứu năng lực dưới hình thức là một thuộc tính, một khả năng, tài năng của con 10 người trong hoạt động thực tiễn. Năng lực trong quan niệm của triết học cho rằng đó là mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa các đặc tính tâm lý của con người, những đặc trưng tâm lý này phải thống nhất và phù hợp với các hình thức hoạt động đã hình thành trong lịch sử. Do đó, trình độ phát triển của loài người càng có những bước tiến cao bao nhiêu thì năng lực của con người càng phát triển theo trình độ tương ứng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có” [27, tr.
Theo cách hiểu chung nhất thì năng lực của con người bao gồm cả yếu tố bẩm sinh và quá trình con người rèn luyện trong hoạt động thực tiễn mà có được (yếu tố xã hội); trong đó yếu tố xã hội là yếu tố cơ bản, quyết định đến sự hình thành, phát triển năng lực tư duy của chủ thể. Từ những luận cứ khoa học nêu trên, chúng ta có thể quan niệm năng lực là tổng hòa các yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần của chủ thể, tạo nên khả năng và điều kiện nội tại căn bản để chủ thể hoạt động đạt chất lượng, hiệu quả. Năng lực vừa là cái tự nhiên sẵn có mang tính di truyền, đồng thời cũng mang dấu ấn lịch sử, và nó vẫn mãi là khả năng nếu không thông qua hoạt động thực tiễn của con người để hiện thực hóa nó. Bởi thế, dưới mọi góc độ triết học ta nhận thấy năng lực muốn có được phải thông qua hoạt động của con người.
Năng lực biểu hiện thông qua hành động và được đánh giá bằng hiệu quả, chất lượng công việc người đó thực hiện. Năng lực càng cao thì hiệu quả công việc càng lớn và ngược lại năng lực càng thấp, thì hiệu quả công việc chỉ đạt ở mức độ nhất định, thậm chí không đem lại hiệu quả. Do vậy, mọi quan niệm tách rời, biệt lập hai hình thức này đều dẫn tới siêu hình. Năng lực luôn có tính muôn vẻ, giữa con người với con người và ngay trong một cá thể người cụ thể cũng tồn tại nhiều dạng năng lực khác nhau.
Đặc biệt, xã hội ngày càng phát triển, tính chuyên môn hóa cao, sự đa dạng về các ngành nghề là điều kiện cho các dạng năng lực phát triển theo những chiều hướng phong phú và chuyên biệt hơn như: năng lực quản lý, năng lực 11 sư phạm, năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực tự học, năng lực lãnh đạo.Trong đó, năng lực tư duy và năng lực hoạt động thực tiễn là hai dạng năng lực cơ bản của con người, giữa chúng có quan hệ biện chứng với nhau. Tư duy, theo Hồ Chí Minh là lối tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, không giáo điều, rập khuôn không vay mượn của người khác, tránh lối mòn mà phải tự mình suy nghĩ, tìm tòi suy đến cùng bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng cũng như quy luật vận hành, chi phối sự vật hiện tượng đó để tìm ra chân lý cách mạng, phù hợp với nhu cầu điều kiện thực tiễn đất nước; là sự gắn bó giữa ý chí, tình cảm với tri thức khoa học, trong đó, yếu tố tri thức, trí tuệ là quan trọng nhất. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tư duy được hiểu là: “Sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não, quá trình phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, phán đoán, lý luận…” [51, tr. Như vậy, kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, bản chất, phổ biến, các quy luật ở một hay nhiều nhóm sự vật khác nhau; nó được ghi lại trong ngôn ngữ.
Tư duy, có tính độc lập tương đối, một mặt, tư duy có được tính tích cực sáng tạo trong quá trình tìm kiếm tri thức mới, mặt khác, là nguồn gốc cho sự tách rời tư duy với hiện thực khách quan. Bởi vậy, tư duy phải luôn gắn với thực tiễn, bám sát thực tiễn, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý trước những vấn đề mà tư duy đưa ra. Ở phương diện này, tư duy được nghiên cứu như hoạt động nhận thức và phân loại các dạng tư duy trên cơ sở mức độ khái quát và đặc điểm sử dụng các công cụ, phương tiện trong quá trình tư duy, những cái mới đối với chủ thể, mức độ tích cực của chủ thể, mức độ phản ánh hiện thực một cách phù hợp, chính xác nhờ tư duy. Trong Từ điển Triết học tư duy được quan niệm là: “Sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận, v.
12 Dưới lăng kính triết học tư duy là quá trình phản ánh hiện thực khách quan thông qua lăng kính chủ quan của con người và được tiến hành bằng các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để đi đến những quan điểm, tư tưởng trong nhận thức và cải tạo thế giới. Hay nói cách khác tư duy là khả năng và con đường nhận thức thế giới. Vấn đề tư duy được đề cập ở đây chính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và tìm ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý. Từ những phân tích trên, có thể quan niệm tư duy là giai đoạn của quá trình phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát hiện thực khách quan thông qua các khái niệm, phán đoán, suy luận nhằm phát hiện ra các thuộc tính, mối liên hệ bản chất và quy luật vận động của sự vật, hiện tượng giúp chủ thể nhận thức, giải quyết sáng tạo, hiệu quả những vấn đề lý luận và thực tiễn.
Như vậy, với cách tiếp cận về năng lực, về tư duy như trên chúng ta có thể quan niệm năng lực tư duy là tổng hòa các yếu tố tư chất, vốn tri thức, phương pháp và kỹ xảo, kỹ năng của chủ thể, tạo nên khả năng, điều kiện giúp cho chủ thể giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn một cách có hiệu quả cao. Tư chất (thể chất và tố chất) là tổng hợp những khả năng vốn có về năng khiếu, sức khỏe, tố chất thiên bẩm của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua hoạt động thực tiễn trong từng lĩnh vực cụ thể. Hay nói cách khác, tư chất là năng lực đang ở dạng tiềm năng, muốn nó trở thành năng lực phải dựa vào quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn, với những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể thường xuyên ảnh hưởng và chi phối đến nó. Bởi thế, muốn một chủ thể nhất định phát triển một dạng năng lực nào đó thì trước tiên phải lựa chọn những con người có tư chất tốt, từ đó bồi dưỡng, rèn luyện họ theo những dạng năng lực đã định sẵn, nhằm phát huy tối đa khả năng của họ; giúp họ đạt kết quả cao nhất trong từng lĩnh vực cụ thể đó.
13 Mỗi người khác nhau thì có tư chất khác nhau, và tư chất khác nhau sẽ góp phần hình thành nên những dạng năng lực khác nhau. Tư chất có vai trò hết sức quan trọng là cơ sở nền tảng vật chất cho việc hình thành năng lực, cũng như phát triển năng lực cá nhân, nhưng không phải là yếu tố quyết định mà yếu tố quyết định chính là do hoạt động thực tiễn của chủ thể. Yếu tố này ngày một phát triển theo chiều hướng có lợi nếu thường xuyên rèn luyện và dần suy yếu nếu coi nhẹ và không được quan tâm chăm sóc, rèn luyện đúng mức. Vốn tri thức là kết quả của quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của chủ thể, là tiền đề cơ bản giúp con người có thể nhận thức và xử lý nhanh chóng các tình huống xảy ra, trong đó có kỹ xảo, kỹ năng.
Vốn tri thức không phải yếu tố bất biến mà thường xuyên biến đổi tùy theo sự đam mê, sở thích, nhân tố chủ quan của mỗi người, cũng không đòi hỏi điều kiện hoàn cảnh thúc đẩy và quy định. Vốn tri thức bao gồm: những tri thức về lý luận, về kinh nghiệm, tri thức tổng hợp, tri thức chuyên môn, tri thức liên ngành…tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong mỗi cá nhân.