CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề cơ bản về năng lực tư duy 1. Năng lực Năng lực là một vấn đề khá trừu tượng của tâm lí học.
Khái niệm này cho đến ngày nay vẫn có nhiều cách tiếp cận và cách diễn đạt khác nhau. Theo quan điểm của những nhà tâm lí học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do giáo dục, tập luyện. Năng lực được chia thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn.
Năng lực được chia thành ba mức độ: năng lực, tài năng và thiên tài. Theo từ điển triết học, khái niệm năng lực được hiểu: “Năng lực là khả năng và điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có, là tổng hợp những phẩm chất tâm - sinh lý tạo cơ sở và khả năng hình thành một hoạt động nào đó; năng lực là tổng hợp những phẩm chất tâm - sinh lý của con người khiến cho nó thích hợp với một loại hình nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử”. Năng lực được cấu thành bởi các yếu tố sau: - Thứ nhất, năng lực là khả năng và điều kiện chủ quan để hình thành một hoạt động nào đó của chủ thể. - Thứ hai, năng lực là khả năng và điều kiện tự nhiên sẵn có, đây là cơ sở để hình thành hoạt động nào đó của chủ thể.
- Thứ ba, năng lực là tổng hợp những phẩm chất tâm - sinh lý tạo cơ sở và khả năng hình thành một hoạt động nào đó của chủ thể. Tư duy Tư duy là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học và nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ lý luận nhận thức. Logic học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng.
Xã hội học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau. Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của các quá trình tư duy ở con người. Điều khiển học nghiên cứu tư duy để có thể tạo ra “Trí tuệ nhân tạo”. Tâm lý học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ qua lại cụ thể của tư duy với các khía cạnh khác của nhận thức.
Ngày nay, người ta còn nói tới tư duy của người máy… Theo Spieecskin lại cho rằng: “Tư duy của con người , phản ánh hiện thực, về bản chất là quá trình truyền đạt gồm hai tính chất: Một mặt, con người hướng về vật chất, phản ánh những nét đặc trưng và những mối liên hệ của vật ấy với vật khác, và mặt khác con người hướng về xã hội để truyền đạt những kết quả của tư duy của mình”. Từ cách tiếp cận mô hình xử lý thông tin, tác giả Đặng Phương Kiệt quan niệm: “Tư duy là một quá trình tâm trí phức tạp, tạo ra một biểu tượng mới bằng cách làm biến đổi thông tin có sẵn”. Dựa trên cơ sở những mối liên hệ, quan hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và lý thuyết phản ánh, tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những mối liên hệ và quan hệ giữa các đối tượng hay các hiện tượng của hiện thực khách quan”. Với việc xem tư duy như là quá trình phân tích, tổng hợp… Nguyễn Đình Trãi cho rằng: “Tư duy là quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát những tài liệu đã thu được qua nhận thức cảm tính, nhận thức kinh nghiệm để rút ra cái chung, cái bản chất của sự vật”.
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lý”. 5 Theo Từ điển triết học: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận,… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại”.(1) Theo quan niệm của Tâm lý học: Tư duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác. Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết. Tóm lại: “Tư duy là một quá trình nhận thức bậc cao có ở con người, phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não dưới dạng khái niệm, phán đoán, suy lí.
Tư duy nảy sinh trong hoạt động xã hội, là sản phẩm hoạt động xã hội, bao hàm những quá trình nhận thức tiêu biểu: phân tích, tổng hợp, trừu tượng, khái quát hóa. kết quả của quá trình tư duy là sự nhận thức về một đối tượng nào đó ở mức độ cao hơn, sâu sắc hơn. Các thao tác tư duy Quá trình tư duy được diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành các thao tác trí tuệ. Các thao tác trí tuệ cơ bản là: - Phân tích - tổng hợp: Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân tích đối tượng nhận thức thành những “bộ phận”, những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ giữa chúng để nhận thức đối tượng sâu sắc và đầy đủ hơn.
Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhựng “bộ phận”, những thuộc tính, những thành phần đã được phân tách nhờ phân tích thành một chỉnh thể. Phân tích và tổng hợp có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau tạo thành sự thống nhất không tách rời được. Phân tích là cơ sở của tổng hợp.Tổng hợp diễn ra trên cơ sở của phân tích. - So sánh - tương tự So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau, sự đồng nhất không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các sự vật, hiện tượng.
6 So sánh có liên quan chặt chẽ với thao tác phân tích - tổng hợp, vì mỗi sự vật đều có nhiều thuộc tính, nhiều khía cạnh, nhiều bộ phận, do đó muốn so sánh, chúng ta phải phân tích - tổng hợp. Nhờ so sánh, ta biết được những dấu hiệu giống nhau và khác nhau, cái chung và cái riêng. - Khái quát hoá, đặc biệt hoá, trừu tượng hoá Trừu tượng hoá là dùng trí óc để gạt bỏ những thuộc tính, những khía cạnh thứ yếu không liên quan đến nhiệm vụ của tư duy mà chỉ giữ lại những mặt, những khía cạnh, những thuộc tính có liên quan đến nhiệm vụ của tư duy. Khái quát hoá là dùng trí óc để hợp nhất nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau nhưng có cùng những thuộc tính bản chất thành một nhóm mà nhóm này tạo nên một khái niệm nào đó.
Trừu tượng hóa và khái quát hóa là hai thao tác tư duy cơ bản đặc trưng cho tư duy con người. Hai thao tác này có quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và bổ sung cho nhau. Trừu tượng hóa ở mức độ cao, lược bỏ những yếu tố riêng lẻ của sự vật, hiện tượng đạt được sự khái quát hóa. Khái quát hóa chỉ thực hiện trên cơ sở trừu tượng hóa.
Như vậy, trong quá trình tư duy, các thao tác tư duy cơ bản thường diễn ra theo một hướng thống nhất, theo cùng một chiến lược tư duy do chủ thể tư duy tiến hành, nhằm giải quyết nhiệm vụ tư duy đi đến kết quả. Các thao tác tư duy có mối liên hệ mật thiết đan chéo, xen kẽ và bổ sung cho nhau chứ không tuân theo trình tự máy móc riêng rẽ. Việc thực hiện các thao tác tư duy có thể không tuân theo một thứ tự nhất định và cũng không nhất thiết phải sử dụng tất cả các thao tác trong một quá trình tư duy. Năng lực tư duy Năng lực tư duy là khả năng nắm bắt và vận dụng những tri thức vào cuộc sống của con người; là năng lực phản ánh bằng liên tưởng, phát hiện và xử lý thông tin trong những tình huống, những hoàn cảnh cụ thể.
Năng lực tư duy có vai trò quan trọng trong nhận thức khoa học và trong quá trình nhận thức thế giới của con người. Một mặt, nó giúp chủ thể tư duy huy 7 động và sử dụng thành thạo toàn bộ trí lực để nhận thức bản chất, phương thức tồn tại của sự vật. Mặt khác, nó giúp cụ thể hóa những nhận thức đó để chỉ đạo hành động cụ thể của con người thành hoạt động thực tiễn của bản thân. Năng lực tư duy thuộc về năng lực của từng người về từng lĩnh vực và có thể được biểu hiện thành từng kiểu, từng loại, từng cấp độ năng lực.
- Những điều kiện ảnh hưởng đến năng lực tư duy • Thứ nhất, đặc tính bẩm sinh. • Thứ hai, phương thức sản xuất, môi trường văn hóa, xã hội. • Thứ ba, trình độ khoa học và nghệ thuât của xã hội. Đặc biệt, năng lực tư duy phụ thuộc trực tiếp vào giáo dục, đào tạo.
• Thứ tư, hoạt động thực tiễn. • Thứ năm, nhu cầu, lợi ích, động cơ, cảm xúc, tâm sinh lí chủ thể. - Những đặc trưng và yếu tố cơ bản của năng lực tư duy • Bốn loại yếu tố cơ bản của năng lực tư duy là: - Ghi nhớ, tái hiện, vận dụng những tri thức. - Trừu tượng hóa, khái quát hóa trong phân tích và tổng hợp.
- Liên tưởng, tưởng tượng và suy luận. - Trực giác với linh cảm. • Hoạt động tư duy không được tách rời cảm xúc, ý chí. Đây là một điểm lưu ý khi bồi dưỡng phát triển năng lực tư duy ở sinh viên.
• Năng lực tư duy thể hiện trên hai lĩnh vực, hai chức năng là phản ánh, xử lí và vận dụng tri thức. Tức là vừa khái quát hóa thành tư tưởng, quan điểm, vừa phải cụ thể hóa thành mục tiêu, giải pháp để giải quyết vấn đề.