CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VE GIA TRI THUONG HIEU 1,1, Thương hiệu và vai trò cũa thương hiệu 1. Thương hiệu Trong kinh doanh, thương hiệu (brand) là một khái niệm rất quan trọng. Những nhà kinh tế thuộc các trường phái khác nhau thì có những cách định nghĩa về “thương hiệu” khác nhau. trị thương hiệu là hiệu ứng khác biệt của kiến thức Theo Keller (1993) thì giá thương hiệu lên phán ứng khách hàng đối với hoạt động Marketing thương hiệu.
Theo Kotler (2003) thì thương hí 4 téng ác yếu tố tỉnh cảm, thái độ và nhận thức mmả mọi người đã liên quan đến các đặc tính hữu hình và vô hình của một doanh nghiệp, sản phẩm hoặc dịch vụ. Theo Aaker (1991) thi giá trị thương hiệu là tập hợp giả trị mà khách hàng liên kết với thương hiệu phản ánh các khía cạnh của nhận thức thương hiệu, liên tưởng fhương hiệu, chất lượng càm nhận, lòng trung thành thương hiệu và các giá trị lài sản khác. Vai trò của thương, Thương hiệu nhận định nguồn hoặc người lạo ra sản phẩm vả cho phép người tiêu đùng — cä cá nhân hoặc tổ chức - chỉ định mức độ hiệu quả của nó đối với doanh nghiệp. Người tiêu đùng có thể đảnh giá sản phẩm giống nhau một cách khác nhau tùy cảch nó được xây dựng thương hiệu.
Thương hiệu cũng thực hiện những chức năng quý giá đối với công ty. Thứ nhất, chúng đơn giản hóa việc vận chuyển sản phẩm, lỗ chức việc tổn kho và ghỉ lại dữ liệu kế toán. Thứ hai, một thương hiệu cũng mang lại cho công 1y sự báo vệ về mặt pháp lý những đặc diễm hoặc khía cạnh riêng của sản phẩm. Tên thương hiệu được bão hộ thông qua việc đăng kí tên thương mại, quy trình sân xuất có thể được bảo hộ bằng bằng sáng chế, và việc đóng gói có thể được bảo hộ bằng bán quyền và thiết kế tương thích.
Những quyền tải sàn trí tuệ đảm bảo công ty có thể an toàn đầu tư vào thương hiệu và thu lợi từ một tài sản có giá trị. Một thương hiệu uy tín là biểu hiện của một chất lượng nhất định từ đó những người mua đã hải lòng có thể chọn sản phẩm một lần nữa. Sự trung thành thương hiệu cung cấp tỉnh dự đoán và đảm bảo lượng. cho công ty, nó tạo ra rào cản gia nhập ngi khiến các công ty khó khăn gia nhập thị trường.
Sự trung thành có thể chuyền hóa thành sự sẵn sảng chỉ trả mức giá cao hơn của khách hàng. Mặc dù các đối thủ có thể bắt chước quy trình sân xuất và thiết kế sản phẩm nhưng họ không dễ dàng sánh được những ấn tượng đã có trong tâm trí khách hàng sau nhiều nấm sử dụng sản phẩm và trài nghiệm hoạt dộng tiếp thị. Vì vậy, việc xây dựng thương hiệu có thể là một công cụ quyền lực đắm bảo một lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra, thương hiệu đại điện cho những tài sin phap ly gid tri không lỗ có thể tác động đến hành vi người tiêu đùng, được inua bản và cung cấp cho công ty doanh thu ôn định trong tương lai Do đó, thương hiệu đóng vai trò quan trọng đối với sự sống còn của doanh trị thương hiệu Cò nhiều quan điểm khác nhau về giá trị thương hiệu.
Trong đó, nỗi tiếng cô các mô hình về giá trị thương hiệu của Aaker (1991), Keller (1993), và Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2002). Mô hình của Aaker (1991) David A. Aaker (1991) cho rằng giá trị thương hiệu là một tập hợp các tải sản thương hiệu và trách nhiệm liên quan đến một thương hiệu, tên và biểu tượng gắn liền boặc đúc kết từ giá trị được cung cấp bởi một sản phẩm hay dịch vụ đối với công ty hoặc đối với khách hàng của công y dé. Ý tưởng của Aaker cho thấy mỗi thành phần trong giá trị thương hiệu tạo ra giả trị cho khách hàng hoặc công ty bằng, nhiều cách khác nhau.
Giá trị thương hiệu trong mô hình của Aaker được mô tả trong hình 1.1 như bên dưới. Gồm 4 thành phần chín Nl n biết thương hiệu, lòng trung thành thương hiệu, ất lượng cảm nhận và ci thuộc tỉnh đồng hành thương hiệu. oe “Lan trong thành thương, _— hiện ~. Ctkảt lượng cảm nhận " _ — — 7” c#ethmộc tính đẳng ` — hãnh hươnghiệu —— — Nguôn: Aaker (1991) Hình 1.1: Mô hình giá trị thương hiệu của Aaker Sự trung thành của thương hiệu tạo ra giả trị ằng cách giảm chỉ phí tiếp thị và thúc đây thương mại.
Khách hàng trung thành luôn sẵn sảng lựa chọn thương hiệu và lôi kéo người khác sử dụng nó. Việc giữ chân khách hàng hiện tại ít tốn kém hơn việc thu hút những khách hàng mới và thậm chi chi phi chuyển đối thấp thì vẫn. sẽ có sự tri trệ đáng kế giữa các khách hàng, Khách hàng cẩn thời gian để tìm biểu và quen thuộc với các thương hiện khác. Các đối thủ cạnh tranh cũng khó để tiếp cận với đối tượng khách hàng trung thánh này bởi vì họ có ít động lực để tìm hiểu về các lựa chọn thay thế, Nhận thức về thương hiệu, ngay cả ở cấp độ nhận biết, có thể cùng cấp cho thương hiệu mội c; a gi quen thuộc và là một đầu hiệu c sự bền vững và cam.
kết, Một thương hiệu quen thuộc có lẽ đáng tin cậy và có chất lượng hợp lý. Nhận thức ở cấp độ hồi tưởng ảnh hưởng nhiều hơn đến sự lựa chọn bằng cách ảnh hướng, việc khách hàng xem xét và lụa chọn thương hiệu như là thương biệu đầu tiền phải được cân nhắc trước khi năm trona danh sách mua hàng. 18 Chất lượng cảm nhận cụng cấp cho khách hàng lý do để mua sản phẩm. Thương hiệu gắn liền với một nhận thức vẻ chất lượng tổng thể không nhất thiết dựa trên kiến thức chỉ tiết kỹ thuật.
Chất hrợng gắn liền với thương hiệu cũng có thể là một nhân (lễ mạnh mẽ của việc phân biệt và định vị. Xây dựng thường hiệu bền vững có nghĩa là vẫn giữ vị trí chất lượng trên trung bình hoặc ít nhất là đạt được chất lượng tối thiểu khi xem xét thương hiệu được định vị là đối thủ cạnh tranh thấp. Chất lượng cảm nhận cũng có thể thu hút sự quan tâm của thảnh viên kênh phân phối, cho phép mớỡ rộng thương mại và hỗ trợ việc bán giá sản nhằm cao hơn nhằm cung cấp tải nguyên để tái đầu tư vào thương hiệu. Liên trồng thương biệu là những thuộc tình đồng hành với thương hiệu, như một tên địa phường, một nhân vật gắn liền với thương hiệu, một phong cách sống hay một cá tính.
TÁt câ những điểu này có thể thay đổi trải nghiệm sử dụng và siúp xử lý và lấy thông tín một cách cụ thể, Hai sản phẩm giống hệt nhau có thé tao ra một hiệu ứng khác nhau trong việc sử dụng chỉ vì các liên tường thương hiệu của chủng khác nhau. Liên tưởng thương hiệu là một trong những yếu tố quan trọng, trong việc phân biệt và định vị thương lý do để mua cho những khách hàng tiềm năng đang tìm kiếm các đặc điểm vật chất hoặc cảm xúc liên quan cự thể. Nều một thương hiệu dịnh trí tốt nhờ biết đánh vào liên tưởng thương hiệu thông qua thuộc lính cụ thể, thì các nỗ lực của đối thủ cạnh tranh nhắm vào đúng thuộc tính đó chắc chắn sẽ thất bại, Do đó liên tưởng thương hiệu là một rào cản đối với đối thủ cạnh tranh. Liên tưởng thương hiệu cũng là cơ sở để mớ rộng thương hiệu và mang lại lợi thế cạnh tranh đáng kế trong khu vực mục tiêu.
Tài sản thương hiệu độc quyền khác đề cập đến bằng sáng chế, nhãn hiệu được bảo hộ và mỗi quan hệ với kênh phân phối, những yếu tố có thể mang lại lợi thể cạnh tranh mạnh mẽ. Nhãn hiệu sẽ bảo vệ thương hiệu khỏi đối (hủ cạnh tranh, những người muốn gây nhằm lẫn cho khách hàng bằng cách sử dụng một lên, biểu tượng hoặc bao bì tương tự. Bằng sáng chế có thể ngăn ngừa sự cạnh tranh trực tiếp nếu có sức mạnh và liên quan đến quá trình ra quyết định mua hàng. Cuối củng, một 11 kênh phân phối có thể được kiểm soát giản tiếp bởi một thương hiệu khi khách hàng mong đợi thương hiệu sẽ có mật tại đó.2, Mô hình của Keller (1993) Kevin Lane Keller (1993) xem xét thương hiệu dựa trên quan điểm của khách hàng, đó hiệu quả khác biệt của kiến thức thương hiệu dựa trên phản hồi của khách hàng đối với việc tiếp thị thương hiệu, Giá trị thương hiệu dựa trên khách hàng liên quan đến phản ứng của khách hàng đối với một yếu tố của Marketing mix cho thương hiệu so với phản ứng của họ đối với cùng một yếu tố của một thương, hiệu khác.
Ba yếu tô chính của quan điểm của Keller bao gỗi -_ Hiệu quả khác biệt như (hé Keller thì đó là nổi lên của thương hiệu lừ những khác biệt trơng phân ứng của người tiêu dùng. -_ Kiến thức thương hiệu đây là sự khác biệt về phản hồi của người tiêu dùng. được tạo ra bởi kiến thức của người tiêu dùng về thương hiệt -_ Và cuối cùng, phản ứng của khách hàng đối với chiêu thị đây là phản ứng, khác biệt được sự phản ánh trong nhận thức, sở thích vả hánh vi liên quan đến chiêu thị cùa một thương hiệu. Để hiểu được cách thức xây đựng, đo lường và quản lý giá trị thương hiệu dựa trên khách hàng, Keller mô tả một khái niệm chỉ tiết v trí thức thương hiệu như trong hình 1.
Theo Kellor, trí thức về thương hiệu được định nghĩa gồm bai thành phân: (1) Nhận thức thương hiệu và (2) Ấn tượng thương hiệu. Nhận biết thương hiệu là khả năng của người tiêu dùng để xác định thương, hiệu đưới các điều kiện khác nhau khả năng nhận thức về thương hiệu đó trong tâm. trí khách hàng. Tóm lại, nhận biết thương hiệu yêu cầu người tiêu dùng phân biệt được chính xác (hương hiệu mả họ đã được nhìn thấy hoặc nghe nói trước đây.
Hình ảnh tuương hiệu được dịnh nghĩa là sự phản ảnh và liên tưởng tới thương hiệu trong trí nhớ của khách hàng, Mà sự liên tưởng này bao gồm những. hình thức khác nhau. Theo chiều hướng này dự liên tưởng thương hiệu được phân oại thành 3 đụng chính đó là: thuộc tính, lợi ích và thái độ. 12 Nhận bit thương hiệu Giá trị thương hiệu Hình ánh thương hiệu Nguôn: Keller (1993) Mô hình giá trị thương hiệu của Keller 1.