Mở đầu tiên đó là Quốc Tử Giám và đổi tên thành Quốc Học Viện năm 1230. Năm 1959 trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã mở những khoá hàm thụ đầu tiên bằng cách học theo tài liệu gửi qua bưu điện.Từ năm 1960 và những năm tiếp theo chấp hành nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III và các nghị quyết khác của Bộ chính trị, BCH TƯ, Chính phủ. hàng loạt các trường Đại học, trung học chuyên nghiệp đã mở các khoá học tại chức hoặc hàm thụ tại trường hoặc tại các xí nghiệp, công trường, địa phương. Sau bảy năm đào tạo( từ 1961- 1968) đã cung cấp hàng chục nghìn giáo viên và cán bộ kỹ thuật cho đất nước mà đi đầu trong phong trào này là trường Đại học Bách khoa và trường Đại học Sư Phạm Hà nội.
Từ năm 1992, Vụ giáo dục thường xuyên ( lúc đó là Vụ tại chức GDBD ) đã trình bày một số chủ chương về giáo dục từ xa đã được nhiều trường và địa phương hưởng ứng và triển khai thí điểm tại hai Đại học Mở Hà Nội và Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1994 đã bắt đầu hình thành các trung tâm đào tạo từ xa tại một số trường đại học. Đến nay đã có hơn 10 trường đại học được Bộ Giáo dục và đào tạo cho phép tiến hành đào tạo theo phương thức giáo dục từ xa là : Viện Đại học Mở Hà nội, Đại học Huế, Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh , Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. với số lượng học viên gần hàng trăm ngàn người đang theo học các chương trình đào tạo bậc đại học.
Những thành tựu và kinh nghiệm tiến hành Giáo dục từ xa ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy tuy quy mô còn nhỏ bé nhưng giáo dục từ xa thực sự đã phát huy được hiệu quả. Đây mới chỉ là những bước đi đầu tiên cần có sự đầu tư thích đáng của Nhà nước và sự quan tâm của cả xã hội để giáo dục từ xa có thể đáp ứng được nhu cầu học tập đa dạng của đông đảo nhân dân góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.2 V A I T R Ò , V Ị T R Í Đ Ạ I H Ọ C T Ừ X A T R O N G H Ệ T H Ố N G G IÁ O DỤC Q UỐ C DÂN Ngay từ những ngày mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (9/1945), Hồ chủ Tịch đã đề ra nguyên tắc “ Ai ai cũng được học hành ” được thể hiện ở sơ đồ sau(9) Sơ đ ồ 7: Mục đích giáo dục được Hồ Chủ Tịch nêu lên ngay sau cách mạng tháng 8 năm 1945 ai Ai Cũng được Học hành học Hành Trong đó : ai: tuổi trẻ, được “hoc hành” : Học là chính, làm là kết hợp Ai: người lớn, cũng được “học hành” : làm là chính, học là kết hợp Từ nguyên tắc đó với cách học - hành phù hợp : lúc đầu xoá mù chữ, rồi tiến lên bổ túc văn hoá .v học ở mọi nơi mọi lúc, bằng mọi phương tiện ngay cả trong những lúc gay go nhất của cuộc chiến đấu. Vào cuối những năm 80, bắt đầu công cuộc đổi mới và sau đó là tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam đứng trước một thách thức có tính lịch sử: vừa chống nguy cơ tụt hậu vừa phải tăng tốc phát triển để trong một khoảng thời gian không dài có thể rút ngắn và bắt kịp trình độ phát triển của đa số các nước trong khu vực, tạo thế hội nhập bình đẳng vào công cuộc toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế giới. Để đạt được điều đó thì vấn đề nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực có tầm quan trọng sống còn.
Điều đó có nghĩa là cần mở rộng cơ hội học tập, tạo điều kiện rộng rãi cho mọi người dân ( đặc biệt là giới trẻ và những người trong độ tuổi lao động ) được tiếp cận các cơ hội giáo dục - đào tạo, tuỳ theo nhu cầu và khả năng của mỗi người. (9) Đào tạo từ xa: hiện trạng và triển vọng, GS Vũ Văn Tảo 10 Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế nước ta chưa phát triển, ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục còn hết sức hạn chế, dù có cố gắng đến mấy thì cũng không thể vượt qua cái ngưỡng cho phép, rõ ràng chúng ta không thể giải quyết được vấn đề nêu trên nếu vẫn phát triển giao dục theo mô hình truyền thống. Nghị quyết TW 2 khoá VIII khẳng định chủ trương “ Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa ”(10)1 như một tư tưởng chỉ đạo sự phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá ( dự kiến kết thúc 2020 ). Như vậy ta có thể hình dung cách tổ chức giáo dục cho đến nay để đạt mục đích “ Ai ai cũng được học hành ” là tổ chức giáo dục chính quy (GDCQ) và giáo dục ngoài chính quy gồm giáo dục không chính quy và phi chính quy (GDNCQ) được thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đ ồ 2: Quan hệ giữa hai hình thức GDCQ và GDNCQ Mục tiêu của giáo dục chính quy và ngoài chính quy là nhằm nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, nhân tài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó cách nhìn mới về giáo dục là phải hết sức coi trọng cả 2 bộ phận: Chính quy và ngoài chính quy đều cùng dựa trên nguyên tắc “ Giáo dục thường xuyên, suốt đời ” phải coi trọng cả 2 phương pháp giáo dục: giáo dục mặt giáp mặt và giáo dục từ xa trên nguyên tắc: “ tự học ”. (10) Nxb Chính trị quốc gia- Vân kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TƯ Khoá VIII, SDD, tr31 11 Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ta cần “ chú trọng đào tạo nguồn nhân lực. và đội ngũ các nhà kinh doanh giỏi ở nông thôn ” - NQTW4 (khoá VII). Trong đó phải xác định ĐTTX chính là một nhân tố của kiểu làm giáo dục mới, một phương pháp, một công cụ khác lợi hại cho việc thực hiện ý tưởng lớn : ai ai cũng được học hành, học thường xuyên , học suốt đời Sơ đồ 3 : Bức tranh toàn cảnh giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá Giáo dục Đươc hoc Đươc làm Học được Làm được Dạy cách học + Học cách học CBXH về học CBXHvề Làm Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, giao lưu (NN+XH+GĐ) Kinh tế - xã hội (NT+GĐ+XH) Ai ai cũng được học hành thường xuyên suốt đời hướng đến một xã hội học hành NN: Nhà nước XH: Xã hội GĐ: Gia đình NT: Nhà trường Co thê nhìn thây bức tranh toàn cảnh giáo due sẽ hình thành trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước trong đó: - Để thực hiện “ ai ai cũng được học hành”, không chỉ cần có chính sách giúp những đối tượng khó khăn, thiệt thòi “được học ” mà còn phải có chính sách giúp họ “học được ”, thì mới thực sự đạt “công bằng xã hội về học 12 - Yêu cầu tối thiểu của chất lượng giáo dục là người học “làm được” những việc được giao, và khi đó xã hội phải tạo điều kiện cho họ “được làm”, có việc làm, mà không thất nghiệp; được như vậy, mới thực sự có “công bằng xã hội về làm Công bằng xã hội về học và làm, trước hết là trách nhiệm của Nhà nước và của xã hội, có những chính sách và cơ chế phù hợp, tạo điều kiện được học và được làm cho những đối tượng chính sách.
Bằng những biện pháp giáo dục, như tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, hướng nghiệp, tạo ra cho người học năng lực tự lập, tự tìm, tự tạo việc làm. ngành giáo dục và đào tạo có trách nhiệm làm cho nghiên cứu đối tượng đó “học được” và “làm được’. Chỉ có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, xã hội và ngành GD&ĐT; giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng, thì 2 sự công bằng trên mới thành hiện thực được ( cho đến nay, chưa thực sự có sự phối hợp này; chủ trì phối hợp, phải là Nhà nước), nhờ đó mà kinh tế phát triển, xã hội ổn định, gia đình hạnh phúc, cá nhân tiến bộ. Trên nguyên tắc “học tập thường xuyên suốt đời” mà tổ chức thực hiện “ai ai cũng được học hành”, sự thành công của giáo dục xét đến cùng, là dạy người học biết cách học, biết tự học, như một điều “bất biến” trước những nội dung cần giáo dục, thay đổi nhanh chóng cả lượng và chất một cách “vạn biến”.
Có thể tiến tới tổ chức một “xã hội học hành” ở nước ta, thực hiện một ý tưởng lớn của thời đại, mà đặc trưng là: mọi sự kiện, mọi công việc, mọi hoạt động. đối với mọi người đều là những cơ hội học hành cho mình và ai cũng có thê là trò, ai cũng có thể là thầy. Có thể gọi đó là một xã hội khuyên học, từ một gia đình khuyên học, một xí nghiệp khuyến học, một cộng đồng khuyến học V. ở nước ta tinh thần khuyến học là truyền thống quý báu sẵn có, gần đây được nhắc đến nhiều hơn ở một số dòng họ, một số gia phả, một số hương ước.
và được trân trọng, được phát huy. Vì sự nghiệp trăm năm trồng người, tầm nhìn của giáo dục phải đủ xa, bảo đảm cho giáo dục làm tròn sứ mạng mới của mình. Dân tộc Việt nam sẽ 13 phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, truyền thống cách mạng về tự lực tự cường, phát huy nội lực, mà sáng tạo nên sự giàu mạnh và sự công bằng, văn minh của đất nước trong bối cảnh của thời đại “toàn cầu hoá” hướng vào nền “văn minh trí tuệ’. Người Việt nam, dù sống ở những vùng xa xôi nào, dù hoản cảnh thế nào, miễn là có chí học, đều được tạo điều kiện được học; đó là lý tưởng cao đẹp của xã hội ta.