Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu chung về tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam Từ xưa đến nay, vấn đề nghiên cứu tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam ít nhiều đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và tiếp nhận. Tuy nhiên, phần lớn những công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao, dân ca chỉ dừng lại ở việc sưu tầm giới thiệu sơ lược.
Được đánh giá cao là công trình sưu tầm nghiên cứu: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ Việt Nam của tập thể tác giả, Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Trù, Kho tàng ca dao Người Việt, 3 tập của tập thể tác giả Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Phan Đăng Tài, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang. Chu Xuân Diên trong “Văn học dân gian Việt Nam” đã nghiên cứu một cách khá toàn diện về cả nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao. Theo tác giả “Ca dao phản ánh quan điểm tự do yêu đương, tự do hôn nhân của nhân dân lao động”. Mã Giang Lân trong “Tục ngữ, ca dao Việt Nam” đã có những nghiên cứu tổng quan về ca dao nhưng chưa có những diễn giải cụ thể.
Còn Vũ Ngọc Phan cũng đã nghiên cứu về ca dao một cách hệ thống. Tuy nhiên, các nghiên cứu còn tập trung nhiều đến phương diện biểu hiện tình cảm của người bình dân ở các góc độ đấu tranh giai cấp. Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu còn chú ý khai thác ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng trên nhiều phương diện như văn học dân gian, thi pháp học, ngôn ngữ học, văn hóa học. Có thể kể đến sự đóng góp của các tác giả như: + Trần Thị An (1990) với “Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu”, Văn hóa dân gian.
+ Phan Huy Dũng (1991) với “Hình thức lấp lửng của lời tỏ tình trong bài ca xin áo”, Văn hóa dân gian). + Hoàng Tiến Tựu (1998) với “Bình giảng ca dao”, Nhà xuất bản Giáo dục. 5 download by : skknchat@gmail.com + Đỗ Thị Kim Liên (2003) với “Cách sử dụng từ xưng hô trong ca dao tình yêu”, Ngôn ngữ. + Nguyễn Xuân Kính (2006) với “Thi pháp ca dao”, Nhà xuất bản khoa học Hà Nội.
+ Hoàng Kim Ngọc (2009) với “So sánh ẩn dụ trong ca dao trữ tình”, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã tiếp cận ca dao trữ tình từ góc nhìn của lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ và phân tích diễn ngôn. + Hà Thị Hồng Mai (2013) với luận án “Hành động hỏi trong ca dao”. Tác giả đã tập trung làm rõ các đặc điểm của hành động hỏi trong ca dao trên các phương diện: hình thức, nội dung, văn hóa ứng xử, trong đó nổi bật là phép lịch sự.
+ Nguyễn Bích Hảo (2014) với “ Lời khen trong ca dao Việt Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ văn hóa”. Những nghiên cứu về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt Đến nay, trong số các tài liệu mà chúng tôi tham khảo và sưu tầm được, chưa phát hiện đề tài nào trùng tên với đề tài của luận văn này. Có thể trên thực tế, tùy theo khuôn khổ của từng bài viết, và tùy theo mục đích yêu cầu nghiên cứu cụ thể mà một vài khía cạnh của vấn đề đã được đề cập đến, nhưng chưa có nghiên cứu nào về “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt”. Trên cơ sở tiếp nhận và kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, với mong muốn góp phần làm rõ thêm mảng đề tài nghiên cứu một số hành động ngôn ngữ được thể hiện trong một thể loại của văn học dân gian là ca dao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt”.
Qua đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi mong muốn mang đến một cách nhìn, cách cảm mới về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao của người Việt; góp một phần công sức nhỏ bé vào gìn giữ và phát huy những giá trị cao đẹp của ca dao, dân ca. Chúng tôi cho rằng đó cũng là cách thiết thực để bảo tồn, phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. 6 download by : skknchat@gmail. Lí thuyết hội thoại 1.
Khái niệm hội thoại Hội thoại là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và hiện nay ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia đều bàn đến hội thoại. Ở nước ta, kế thừa những thành quả của ngôn ngữ học thế giới, hội thoại đã trở thành mảng nghiên cứu hấp dẫn của ngôn ngữ học ứng dụng. Xoay quanh khái niệm “hội thoại”, chúng ta phải kể đến một số khái niệm sau: Theo Hồ Lê thì “Hội thoại là hành vi thể hiện ngôn giao hai chiều, cụ thể và xác định, làm chuyển hóa vị thế của người thụ ngôn thành vị thế của người phát ngôn và ngược lại, đồng thời tạo ra sự liên kết hành vi phát ngôn với hành thụ ngôn tạo thành một thể thống nhất” (dẫn theo [29, tr. Còn Nguyễn Thiện Giáp thì khẳng định: “Giao tiếp hội thoại là hành chức cơ bản của ngôn ngữ.
Giao tiếp hội thoại luôn luôn có sự hài hòa giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau” [19, tr. Nhìn chung, khái niệm “hội thoại” được các nhà nghiên cứu nhắc đến đều bao gồm yếu tố chỉ nhân vật tham gia hội thoại và quy tắc luân phiên lượt lời giữa các vai giao tiếp thúc đẩy hội thoại phát triển. Riêng Đỗ Hữu Châu lại đưa ra khái niệm “hội thoại” một cách bao quát rộng hơn, có thể áp dụng cho nhiều loại hình ngôn ngữ: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Hội thoại là khái niệm dành cho mọi hình thức hội thoại khác nhau” [8, tr.
Cũng theo Đỗ Hữu Châu thì hội thoại có một số đặc điểm sau: - Thoại trường khác nhau sẽ có cuộc hội thoại khác nhau. Tức là với một không gian - thời gian cụ thể sẽ tương ứng với hình thức hội thoại phù hợp với nó. - Số lượng tham gia hội thoại cũng khiến hội thoại mang những tính chất với những tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, với hai người tham gia, chúng ta đặt tên 7 download by : skknchat@gmail.com hình thức hội thoại là song thoại, ba người tham gia - tương ứng với nó là hình thức tam thoại, nhiều người tham gia hội thoại hơn nữa thì có hình thức đa thoại.
- Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến cuộc thoại. Theo đó, vị thế giao tiếp sẽ trở thành nhân tố nhằm duy trì, thúc đẩy hoặc kết thúc cuộc thoại. - Các cuộc hội thoại đều có những “đích” cụ thể của mình. Để bắt đầu cuộc thoại, các đối tác đối thoại đã phải xác định mục tiêu giao tiếp mà mình cần đạt được từ đó xây dựng chiến lược phù hợp.
Tuy nhiên, đối với những cuộc tán gẫu thì “đích” này thường không cụ thể và mang tính tự phát. - Các cuộc hội thoại khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức. Căn cứ vào từng cuộc thoại mà hình thức thể hiện, quy trình tổ chức, dẫn dắt,. cũng khác nhau.
có khi không cần hình thức tổ chức hỗ trợ nào cả. - Với những hình thức hội thoại khác nhau thì ngữ vực để thể hiện nó cũng khác nhau [8, tr. Cấu trúc hội thoại Theo Đỗ Hữu Châu [8,tr.90] cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có ba trường phái với những quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại. Thứ nhất là trường phái phân tích hội thoại ở Mĩ (Conversation analysis) - Trường phái này cho rằng hội thoại có hai tổ chức cơ bản là lượt lời và cặp thoại.
Thứ hai là trường phái phân tích diễn ngôn (discourse analysis) - Trường phái này dựa trên mô hình cấu trúc bậc (rank) chia hội thoại thành năm bậc. Trong cấu trúc tầng bậc này, hành động (act) là đơn vị nhỏ nhất của cuộc thoại tức cuộc tương tác. Các hành động tạo nên bước thoại, các bước thoại tạo nên cặp thoại và đơn vị lớn nhất, bao trùm là cuộc thoại. Trong đó, ba đơn vị cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại có tính chất lưỡng thoại (dialogal) có nghĩa là hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại.
Hai đơn vị có tính chất đơn thoại, có nghĩa là do một người nói ra là tham thoại và hành động ngôn ngữ. Thứ ba là trường phái lý thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp - Trường phái này đã phân định các 8 download by : skknchat@gmail.com đơn vị cấu trúc hội thoại thành các đơn vị cơ bản: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, hành động ngôn ngữ và tham thoại. Do điều kiện và mục đích của đề tài, chúng tôi không thể đi sâu tìm hiểu các đơn vị cấu trúc của các trường phái khác mà chỉ xin trình bày một số đơn vị hội thoại theo trường phái lý thuyết hội thoại nhằm làm cơ sở lý thuyết cho đề tài. Cuộc thoại Cuộc thoại hay còn gọi là cuộc tương tác (interaction) là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất tính từ khi các nhân vật tham gia cuộc thoại gặp nhau, khởi đầu nói cho đến lúc chấm dứt [8, tr.
Một cuộc thoại được xác định bởi các nhân tố sau: - Nhân vật hội thoại: Một cuộc hội thoại được xác lập bởi sự đương diện liên tục của hai hay nhiều người tham gia. - Tính thống nhất về thời gian và vị trí diễn ra hội thoại: Thời gian có thể ban ngày, ban đêm, chiều tối, hôm qua. Không gian có thể là một khu vườn, bên bờ ruộng, trên đường đi, trên thuyền,. Tiêu chí này chỉ có tính chất tương đối bởi vì trong quá trình hội thoại thời gian và không gian có thể thay đổi.
- Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn: “Đề tài là cái phạm vi hiện thực mà người nói đề cập đến” [24, tr. “Chủ đề là cái chủ đích mà người nói, người nghe cùng đề cập đến trong toàn bộ cuộc thoại”. Một cuộc thoại có độ dài ngắn khác nhau song đòi hỏi phải có sự thống nhất về đề tài - tức các nhân vật tham gia cuộc thoại phải cùng hướng đến một vấn đề, một cái đích chung. Theo Grice một cuộc thoại phải theo một hướng nhất định từ đầu cho đến khi kết thúc (dẫn theo [8, tr.