Tổng quan nghiên cứu

Trong nền tư pháp hiện đại, chứng cứ đóng vai trò là phương tiện pháp lý trung tâm để xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự. Theo thống kê trong giai đoạn 2016-2020, các cơ quan tiến hành tố tụng trên toàn quốc đã thụ lý, giải quyết hơn 350.000 vụ án hình sự với hàng trăm nghìn bị can. Tuy nhiên, tỷ lệ các vụ án bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc bị hủy án, sửa án do sai phạm trong thu thập và đánh giá chứng cứ vẫn chiếm khoảng 2% đến 3% tổng số vụ việc mỗi năm. Thực tế này xuất phát từ việc nhận thức và áp dụng chưa đồng bộ các quy tắc loại bỏ chứng cứ bất hợp pháp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài tập trung vào việc làm sáng tỏ cơ chế loại trừ chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là phân tích toàn diện cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 từ năm 2016 đến năm 2020 trên phạm vi cả nước, đồng thời xác định các bất cập pháp lý và thực tiễn để đề xuất giải pháp hoàn thiện. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu tại Việt Nam trong mốc thời gian 5 năm (2016-2020), có so sánh đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế từ 3 quốc gia tiêu biểu. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc góp phần thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tối đa các vi phạm tố tụng nghiêm trọng và loại trừ 100% việc sử dụng chứng cứ trái luật để buộc tội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của luận văn được xây dựng dựa trên nhận thức luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin về sự phản ánh khách quan của thế giới vật chất. Dấu vết tội phạm tồn tại dưới 2 dạng cơ bản: dạng phản ánh vật chất (dấu vết vân tay, mẫu máu, công cụ phạm tội) và dạng phản ánh tinh thần (ký ức lưu giữ trong ý thức của người làm chứng, người bị hại, bị can).

Luận văn vận dụng học thuyết về 3 thuộc tính cấu thành bắt buộc của chứng cứ theo quy định tại Chương VI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: tính khách quan (sự thật tồn tại độc lập), tính liên quan (mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các tình tiết cần chứng minh) và tính hợp pháp (thu thập đúng nguồn, đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền). Bên cạnh đó, tác giả phân tích 4 khái niệm then chốt gồm: chứng cứ, nguồn chứng cứ, kiểm tra đánh giá chứng cứ và loại trừ chứng cứ. Khái niệm loại trừ chứng cứ được định vị là hành vi tố tụng và tư duy logic nhằm bác bỏ các dữ liệu không đủ 3 thuộc tính pháp lý. Nghiên cứu cũng tiếp cận học thuyết về quy tắc loại trừ chứng cứ thông qua luật học so sánh từ 3 hệ thống pháp luật lớn: Đạo luật Cảnh sát và Chứng cứ hình sự năm 1984 của Anh (PACE 1984), Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga và Điều 55 Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ hệ thống 5 báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (từ Báo cáo số 152/BC-VKSNDTC năm 2016 đến Báo cáo số 253/BC-VKSNDTC năm 2020), kết hợp nguồn dữ liệu thực chứng từ 3 bản án hình sự sơ thẩm xét xử các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và ít nghiêm trọng tại tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Bình Phước giai đoạn 2016-2021.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê tổng hợp toàn diện trên 63 tỉnh thành với quy mô hơn 350.000 vụ án hình sự trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2020. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu điển hình theo từng loại vi phạm tố tụng phổ biến. Luận văn áp dụng 4 phương pháp phân tích chủ đạo: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê xã hội học pháp lý và phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm bảo đảm việc đối chiếu chặt chẽ giữa các quy định trừu tượng của Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với thực tiễn xét xử, mang lại kết quả nghiên cứu có độ tin cậy và giá trị thực tiễn cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện quan trọng trong lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về loại trừ chứng cứ giai đoạn 2016-2020:

Thứ nhất, việc lần đầu tiên quy định nguyên tắc loại trừ chứng cứ tại Khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã tạo hành lang pháp lý trực tiếp để loại bỏ hàng nghìn tài liệu không hợp pháp, góp phần đưa tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo tội phạm trên toàn quốc đạt trên 90% mỗi năm.

Thứ hai, vi phạm về tính hợp pháp trong hoạt động thu thập lời khai vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất. Thống kê từ các báo cáo chuyên ngành cho thấy có khoảng 35% số vụ án bị tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung xuất phát từ vi phạm thủ tục lấy lời khai, như: không có sự tham gia của người bào chữa trong trường hợp bắt buộc, biên bản hỏi cung ghi chép không trung thực, hoặc không thực hiện ghi âm, ghi hình có âm thanh theo luật định.

Thứ ba, hoạt động giám định tư pháp và thu thập dữ liệu điện tử gặp nhiều rào cản kỹ thuật. Trong khoảng 25% các vụ án hình sự phức tạp liên quan đến công nghệ cao hoặc ma túy, chứng cứ điện tử và dấu vết sinh học bị loại trừ do quy trình bảo quản, trích xuất ban đầu của cơ quan điều tra không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật hình sự.

Thứ tư, nhận thức về việc loại trừ chứng cứ phái sinh (chứng cứ thu được từ hành vi thu thập bất hợp pháp ban đầu) giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án còn thiếu thống nhất, dẫn đến khoảng 15% đến 20% vụ án có sự tranh cãi gay gắt tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm.

Thảo luận kết quả

Diễn biến thực tế của các vụ án bị trả hồ sơ hoặc đình chỉ giai đoạn 2016-2020 có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ đường xu hướng kết hợp với bảng số liệu tổng hợp 5 năm. Bảng thống kê chi tiết theo 3 giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sẽ phản ánh rõ ràng sự phân hóa tỷ lệ loại trừ chứng cứ: giai đoạn xét xử sơ thẩm chiếm tỷ lệ phát hiện sai phạm chứng cứ cao nhất với hơn 50%, giai đoạn truy tố chiếm khoảng 30%, và giai đoạn điều tra chiếm khoảng 20%.

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên nằm ở sự thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù Khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã đặt ra nguyên tắc nhưng chưa có hướng dẫn chi tiết về tiêu chí xác định thế nào là "vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" để loại trừ chứng cứ. Các điều luật chuyên biệt như Điều 95 (vật chứng), Điều 98 (lời khai bị can, bị cáo), Điều 108 (đánh giá chứng cứ) còn thiếu cơ chế loại trừ cụ thể. Bên cạnh đó, áp lực tỷ lệ phá án và sự thiếu thốn về cơ sở vật chất (ước tính khoảng 40% cơ quan điều tra cấp quận, huyện chưa được trang bị đầy đủ hệ thống phòng hỏi cung đạt chuẩn ghi âm, ghi hình) là rào cản lớn đối với việc thực thi pháp luật.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn kiến nghị 4 nhóm giải pháp đột phá nhằm nâng cao hiệu quả loại trừ chứng cứ bất hợp pháp trong tố tụng hình sự:

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định pháp luật thực định. Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần sửa đổi, bổ sung trực tiếp Khoản 2 Điều 87, Điều 95, Điều 98 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2024-2026. Nội dung sửa đổi cần quy định rõ ràng hậu quả pháp lý của chứng cứ phái sinh, khẳng định mọi chứng cứ có được từ hành vi bức cung, nhục hình hoặc vi phạm quyền có người bào chữa đều bị loại trừ tuyệt đối.

Thứ hai, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn liên ngành. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp cần xây dựng Thông tư liên tịch trước năm 2025 nhằm thiết lập cơ chế phiên họp xem xét tính hợp pháp của chứng cứ trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, hướng tới mục tiêu giảm 50% số vụ án bị kéo dài do trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Thứ ba, tăng cường đầu tư trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ. Bộ Công an và các cơ quan tư pháp cần triển khai dự án hiện đại hóa, bảo đảm đến năm 2026 có 100% phòng hỏi cung tại các cơ sở giam giữ và trụ sở công an cấp huyện được lắp đặt thiết bị ghi âm, ghi hình có âm thanh chuẩn hóa, đồng thời trang bị phương tiện chuyên dụng để phục hồi và phân tích chứng cứ kỹ thuật số.

Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ tư pháp. Các cơ sở đào tạo luật và các ngành tư pháp cần tổ chức định kỳ ít nhất 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng đánh giá, loại trừ chứng cứ cho Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và Luật sư, phấn đấu đạt tỷ lệ 95% cán bộ nắm vững quy trình xử lý tài liệu sai phạm tố tụng vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Kiểm sát viên: Đây là tài liệu nghiệp vụ chuyên sâu cung cấp các tiêu chí phân loại và căn cứ pháp lý rõ ràng để đánh giá, loại bỏ các tài liệu thu thập trái luật, giúp cơ quan xét xử và công tố đưa ra phán quyết chính xác, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư: Nghiên cứu cung cấp hệ thống lập luận khoa học, dẫn chứng thực tế từ 3 bản án điển hình và kinh nghiệm quốc tế, hỗ trợ luật sư xây dựng luận cứ bào chữa sắc bén nhằm yêu cầu Hội đồng xét xử loại trừ các chứng cứ vi phạm thủ tục tố tụng.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật: Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị cho chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (mã số 8380104), phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các chuyên đề về chứng cứ trong luật tố tụng.

Cơ quan lập pháp và ban soạn thảo văn bản luật: Các phân tích lý luận và số liệu thực chứng 5 năm là cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ hoạt động tổng kết thi hành và sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong thời gian tới.

Câu hỏi thường gặp

Loại trừ chứng cứ trong tố tụng hình sự là gì?

Loại trừ chứng cứ là hoạt động nhận thức và tư duy pháp lý của chủ thể tiến hành tố tụng nhằm bác bỏ, không công nhận giá trị chứng minh của những thông tin, đồ vật, tài liệu thu thập được do vi phạm 1 trong 3 thuộc tính cơ bản (tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp).

Khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như thế nào?

Điều luật này quy định: Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự. Đây là cơ sở pháp lý chung nhất để bác bỏ chứng cứ bất hợp pháp.

Những vi phạm thủ tục nào dẫn đến việc loại trừ lời khai của bị can?

Lời khai bị loại trừ khi thu thập bằng các biện pháp bức cung, dùng nhục hình, không giải thích quyền im lặng, hoặc lấy lời khai của người bị buộc tội từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi mà không có người bào chữa hay người đại diện tham gia theo quy định tại Điều 98 và Điều 420 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các nước trên thế giới quy định quy tắc loại trừ chứng cứ ra sao?

Các nước theo hệ thống Thông luật như Anh áp dụng quy tắc loại trừ theo PACE 1984 để bảo vệ tính công bằng, trong khi các nước Dân luật như Nga quy định tại Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự về việc chứng cứ vi phạm thủ tục bị mất hoàn toàn giá trị chứng minh.

Dữ liệu điện tử thu thập không đúng quy trình có bị loại trừ không?

Có. Theo quy định về nguồn chứng cứ tại Điều 87 và Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, các dữ liệu điện tử nếu không được niêm phong, sao chép nguyên vẹn hoặc không chứng minh được tính toàn vẹn qua kết luận giám định kỹ thuật số đều bị loại trừ khỏi hồ sơ vụ án.

Kết luận

  • Khẳng định loại trừ chứng cứ là chế định pháp lý then chốt nhằm hiện thực hóa nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo vệ quyền con người và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 3 thuộc tính của chứng cứ và thiết lập khái niệm khoa học chuẩn xác về loại trừ chứng cứ trong tố tụng hình sự.
  • Phân tích thực chứng bức tranh 5 năm áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (giai đoạn 2016-2020) dựa trên 5 báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bản án sơ thẩm thực tế.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược nhằm sửa đổi các điều luật then chốt (Điều 87, Điều 95, Điều 98, Điều 108) và tăng cường đầu tư kỹ thuật hình sự.
  • Xác định lộ trình thực thi rõ ràng từ năm 2024 đến năm 2026 để nâng cao chất lượng tranh tụng và kiểm soát quyền lực tư pháp.

Các cơ quan tiến hành tố tụng, luật sư và nhà nghiên cứu cần đẩy mạnh khai thác, ứng dụng các luận điểm khoa học từ luận văn để nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự, góp phần bảo đảm sự nghiêm minh của công lý.