CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ Sự NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ Sự NGHIỆP 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, Nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng trong công tác tổ chức, quản lý và điều hành các mặt của đời sống kinh tế xã hội. Để thực thi vai trò này, Nhà nước tiến hành tổ chức bộ máy các cơ quan trực thuộc bao gồm các cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội và đơn vị SNCL.
Tuy nhiên theo quan điểm trước đây các cơ quan này được gọi chung là đơn vị HCSN và được định nghĩa khá giống nhau như: Theo Giáo trình Kế toán công trong đơn vị HCSN của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Đơn vị sự nghiệp là đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một hoạt động nào đó. Đặc trưng cơ bản của các đơn vị sự nghiệp là được trang trải các chi phí hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao bằng nguồn kinh phí từ ngân quỹ Nhà nước hoặc từ quỹ công theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp” [27, tr12]. Theo Khoản 1 điều 9 Luật số 58/2010/QH12 của Quốc hội về Luật viên chức quy định: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [25]. Như vậy việc gọi tắt như trên xuất phát từ bản chất hoạt động của các đơn vị HCSN nói chung là hoàn toàn khác biệt so với doanh nghiệp.
Chính vì chỉ xuất phát từ mục đích phân biệt đơn vị HCSN và các doanh nghiệp mà các quan điểm trên đã đồng nhất cơ quan hành chính Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp. về bản chất, có 10 thể hiểu đơn vị HCSN là một từ ghép để phản ánh các loại tổ chức khác biệt nhau: Cơ quan hành chính Nhà nuớc và đơn vị SNCL. Hiện nay, Cơ quan hành chính Nhà nuớc và đơn vị SNCL là hai khái niệm khá dễ để gây sự nhầm lẫn. Đây không phải là điều quá ngạc nhiên bởi vì truớc đây, hai loại hình cơ quan này có cơ chế tài chính cơ bản là giống nhau, hơn nữa đội ngũ các bộ trong hai loại hình tổ chức này cũng nhu nhau về chế độ tiền luơng, tiền thuởng và các chế độ đãi ngộ.
Tuy nhiên, với chức năng và nhiệm vụ cơ bản là khác nhau, hai loại cơ quan này đuợc Nhà nuớc ta định huớng là tách nhau và có chế độ phải khác nhau. Cụ thể: Cơ quan hành chính Nhà nuớc là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nuớc, là tổ chức (cá nhân) mang quyền lực Nhà nuớc đuợc thành lập và có thẩm quyền theo quy định của Pháp luật nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nuớc bao gồm: các cơ quan quản lý Nhà nuớc từ Trung uơng đến địa phuơng, thuộc các cấp chính quyền, các ngành, các lĩnh vực. Cơ quan hành chính Nhà nuớc hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp hoặc các nguồn khác theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện nhiệm vụ Nhà nuớc giao; Mang tính quyền lực Nhà nuớc; Nhân danh Nhà nuớc để thực thi quyền lực Nhà nuớc,. Trong khi đó, các đơn vị SNCL không phải là cơ quan quản lý Nhà nuớc mà là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nuớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có tu cách pháp nhân, có tài khoản, con dấu riêng, thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nuớc hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật.
Hay nói cách khác đơn vị SNCL là một bộ phấn cấu thành cơ cấu tổ chức của các cơ quan hành chính Nhà nuớc; Không mang quyền lực nhà nuớc, không có chức năng quản lý nhà nuớc (nhu: xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính.) mà bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công;. Xuất phát từ sự khác biệt đó, việc phân định rõ cơ quan hành chính Nhà nuớc và đơn vị SNCL là hết sức cần thiết, đặc biệt trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính Nhà nuớc để nâng cao hiệu quả hoạt động của bản thân các tổ chức và 11 đem lại lợi ích cho cộng đồng xã hội. Ngày nay, với sự phát triển của xã hội và được “cấp quyền” tự chủ, các đơn vị sự nghiệp ngày càng thể hiện rõ chức năng của mình, ngày càng tách khỏi “cái bóng” là cơ quan Nhà nước. Đặc biệt là Quyết định 31/2017/QĐ-TTg ngày 17/07/2017 về tiêu chí, danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị SNCL thành công ty cổ phần lại càng thể hiện rõ định hướng đó.
Trong nội dung tiếp theo của luận văn, tác giả xin đi sâu phân tích, tìm hiểu những nội dung liên quan đến đơn vị SNCL. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Như trên đã xác định, đơn vị SNCL là các tổ chức thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Đặc điểm hoạt động sự nghiệp của các đơn vị SNCL bao gồm hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ. Hoạt động sự nghiệp là hoạt động chủ yếu của các đơn vị và được Nhà nước giao chức năng, nhiệm vụ thực hiện dịch vụ công ích để phục vụ xã hội, phi lợi nhuân.
Hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ là hoạt động mở thêm của các đơn vị trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao tại các đơn vị SNCL được phép tổ chức hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ trên cơ sở lấy thu bù chi và có tích lũy nhằm tăng thu nhập cho người lao động và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Do đó, các đơn vị sự nghiệp dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau nhưng đều mang những đặc điểm cơ bản như sau: - Thứ nhất, Đơn vị sự nghiệp là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận. Các đơn vị sự nghiệp do Nhà nước ra quyết định thành lập để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội. Trong quá trình hoạt động, đơn vị sự nghiệp có thể được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động.
Các sản phẩm dịch vụ do đơn vị sự nghiệp cung ứng cần được sử dụng thì có thể do Nhà nước đứng ra cung cấp không thu tiền để xã hội tiêu dùng. Trong trường hợp có thu tiền của người tiêu dùng thì cũng chỉ thu để bù đắp một phần chi phí đầu vào để tạo ra chúng. 12 - Thứ hai, Hoạt động của các đơn vị SNCL là cung cấp những sản phẩm mang lại lợi ích chung, có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cái vật chất và giá trị tinh thần của xã hội. Hoạt động sự nghiệp chủ yếu là cung cấp dịch vụ công cộng, tạo ra những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội.
là những sản phẩm vô hình, có giá trị tinh thần vô hạn, chủ yếu được tổ chức để phục vụ xã hội do đó chi phí chi ra không được trả lại trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế nào đó mà được thể hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị sự nghiệp là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định. Những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng. - Thứ ba, Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước như: chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình, chương trình xoá mù chữ,.
Những chương trình, mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước với vai trò của mình thông qua các đơn vị sự nghiệp thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì đơn vị sự nghiệp công lập được cơ quan có thẩm quyền xem xét để xếp vào 1 trong 4 mức độ tự chủ: - Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảmchi thường xuyên và chi đầu tư; - Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảmchi thường xuyên; - Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảmmột phần chi thường xuyên; - Đơn vị sự nghiệp công doNhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, đơn vị sự nghiệp được phân loại như sau: Cách xác định để phân loại đơn vị sự nghiệp: Tổn Mức tự bảo đảm chi = g số nguồn thu sự nghiệp x 100 % 13 phí hoạt động ---------------------------------- t hnong χuyen cua Tổng số chi hoạt động thường xuyên đơn vị (%) - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động, gồm: ■ Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, bằng hoặc lớn hơn 100%. ■ Đơn vị sự nghiệp đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp, từ nguồn NSNN do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đặt hàng.
- Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ trên 10% đến dưới 100%. - Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, gồm: ■ Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ 10% trở xuống. ■ Đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu.