Chương I: Một số lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp. Chương II: Thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm. Chương III: Các kết luận, đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Lý luận chung về TSCĐ trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản về Tài sản cố định Trước hết, cần hiểu khái niệm tài sản nói chung, tài sản được đề cập theo VAS 01 thì: “Được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc thiết bị, vật tư, hàng hóa hoặc không biểu hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp”. Ngoài ra chuẩn mực cũng đề cập “tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Như vậy, tài sản nói chung được hiểu là những nguồn lực thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
10 Thứ hai, về khái niệm TSCĐ: Theo thông lệ quốc tế, TSCĐ là những tài sản có thời gian hữu ích ít nhất 1 năm được sử dụng cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp và không có ý định bán lại cho khách hàng. Tài sản cố định trong doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài và giá trị được chuyển dịch dần dần vào gia trị sản phẩm, dịch vụ.TS Nghiêm Văn Lợi, Giáo trình Kế toán tài chính, 2009, trang 93, NXB Tài Chính]. TSCĐ trong doanh nghiệp bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình, trong đó: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 03 “Tài sản cố định hữu hình”, Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 04 “Tài sản cố định vô hình”, Tài sản cố định vô hình: Là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.
Khái niệm nguyên giá TSCĐ: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Phần lớn các khái niệm TSCĐ cho rằng TSCĐ là những tài sản có giá trị đủ lớn, có thời gian sử dụng lâu dài và được đầu tư, sử dụng để mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Mỗi quốc gia tùy vào trình độ phát triển kinh tế, trình độ quản lý và sức mua của đồng tiền ở những thời điểm khác nhau để quy định giá trị tối thiểu để ghi nhận TSCĐ. 11 Như vậy, có thể hiểu TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu và những tài sản khác có giá trị lớn, có thời gian sử dụng hữu ích ít nhất 1 năm, phục vụ sản xuất trong một thời kỳ dài, tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giá trị TSCĐ giảm dần và được chuyển vào giá trị sản phẩm dưới hình thức khấu hao.
Đặc điểm TSCĐ TSCĐ trong doanh nghiệp có những đặc điểm sau: - TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm này, doanh nghiệp cần theo dõi, quản lý chặt chẽ TSCĐ cả về hiện vật và chất lượng, tránh hiện tượng mất mát hay không sử dụng được làm ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần lựa chọn hoạt động đầu tư TSCĐ phù hợp với nhu cầu, đặc điểm hoạt động SXKD cũng như khả năng tài chính của doanh nghiệp. - TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc nhiều năm hoạt động của doanh nghiệp.
Vì vậy doanh nghiệp cần quan tâm đến việc bảo vệ, sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ để TSCĐ hoạt động hiệu quả nhất và lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ phù hợp với từng loại TSCĐ và đặc điểm của doanh nghiệp nhằm đánh giá sát nhất mức độ hao mòn để thu hồi giá trị đã đầu tư của TSCĐ. - Giá trị của TSCĐ sẽ bị hao mòn dần và sẽ chuyển dịch từng phần vào chi phí sản xuất kinh doanh thông qua việc doanh nghiệp trích khấu hao. - TSCĐ hữu hình giữ nguyên hình thái ban đầu cho đến khi bị hư hỏng, còn TSCĐ vô hình không có hình thái vật chất nhưng lại có chứng minh sự hiện diện của mình qua Giấy chứng nhận, giao kèo, các giấy tờ có liên quan khác. - TSCĐ là bộ phận quan trọng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp.
TSCĐ có vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình 12 hình tài chính của doanh nghiệp và ảnh hưởng đáng kể đến thông tin trình bày trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần quan tâm quản lý tốt và tổ chức hạch toán kế toán TSCĐ phù hợp nhằm nâng cao hiệu năng công tác quản lý và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại TSCĐ 1. Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện Theo cách phân loại này, tài sản cố định được chia thành hai loại: - Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.
Cụ thể như sau: + Nhà cửa, vật kiến trúc: là những tài sản cố định được hình thành sau quá trình thi công, xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí nhà cửa, đường sá, cầu cống, đường sắt. + Máy móc thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ. + Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện gồm những phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, đường ống, băng tải. + Thiết bị dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: máy vi tính, thiết bị điện tử, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng sản phẩm, máy hút ẩm.
+ Cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như vườn cà phê, cao su. súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như voi ngựa, trâu, bò. 13 + Các loại tài sản cố định hữu hình khác: Là những loại tài sản cố định khác ngoài 5 loại trên như: tranh, ảnh, tác phẩm nghệ thuật. - Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể như: chi phí về đất sử dụng, chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí về bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả; chi phí về quyền tác giả, nhận chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu hàng hóa, phần mềm máy vi tính, giấy phép và giấy phép nhượng quyền.
Phân loại TSCĐ theo tiêu thức này giúp cho người quản lý có một cách nhìn tổng quát về cơ cấu TSCĐ của doanh nghiệp. Đây là một căn cứ quan trọng để ra các quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh phương hướng đầu tư cho phù hợp với đặc điểm SXKD, giúp doanh nghiệp có các biện pháp quản lý tài sản hiệu quả. Phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu Theo cách phân loại này, tài sản cố định trong doanh nghiệp được chia ra thành hai loại: Tài sản cố định hiện có và tài sản cố định đi thuê: - Tài sản cố định tự có: Là những tài sản cố định được mua sắm, xây dựng hoặc hình thành từ nguồn vốn của doanh nghiệp, do ngân sách cấp, do nhận vốn liên doanh, góp cổ phần, do đi vay của ngân hàng, bổ sung từ các quỹ. - Tài sản cố định đi thuê, bao gồm: + Tài sản cố định thuê hoạt động: là những tài sản cố định đi thuê của các đơn vị khác để sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng đã ký.
+ Tài sản cố định đi thuê tài chính: Thực chất là một dạng thuê vốn, là những tài sản cố định mà doanh nghiệp có quyền sử dụng và kiểm soát lâu dài, còn quyền sở hữu có thể thuộc về doanh nghiệp khi đã trả hết nợ theo hợp đồng đã ký. Phân loại TSCĐ theo tiêu thức này có ý nghĩa lớn với công tác quản lý tài sản. Đối với những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của đơn vị thì đơn vị phải có 14 các biện pháp quản lý riêng, doanh nghiệp có toàn quyền sử dụng, định đoạt đối với tài sản. Đối với TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của đơn vị thì đơn vị phải dựa trên hợp đồng thuê, phối hợp với bên cho thuê tài sản để thực hiện quản lý, sử dụng tài sản.
Phân loại tài sản cố định theo nguồn hình thành Theo cách phân loại này, tài sản cố định của doanh nghiệp được chia thành các loại sau: - Tài sản cố định thuộc nguồn ngân sách cấp. - Tài sản cố định thuộc nguồn vốn liên doanh, liên kết. - Tài sản cố định thuộc nguồn vốn cổ phần - Tài sản cố định thuộc nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp. - Tài sản cố định thuộc nguồn vốn vay.
Cách phân loại này giúp người quản lý thấy được TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn nào, từ đó có những quyết định sử dụng nguồn vốn đầu tư cho TSCĐ và có biện pháp theo dõi, quản lý và sử dụng TSCĐ sao cho có hiệu quả nhất. Phân loại tài sản cố định theo công dụng và tình hình sử dụng Theo cách phân loại này tài sản cố định trong DN được chia thành ba loại: - Tài sản cố định dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh. Là những tài sản hữu hình, vô hình được sử dụng vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi.