CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN 1. Khái niệm, n ộ i dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán Theo Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam thì: "Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước, cũng như từng tổ chức, xí nghiệp".
Theo Luật Kế toán Việt Nam thì: "Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động". Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các nhà quản lý phải tổ chức quản lý doanh nghiệp, nhằm đảm bảo ổn định và phát triển doanh nghiệp đi đúng hướng. Một trong những nội dung thuộc về tổ chức quản lý doanh nghiệp là tổ chức công tác kế toán. Theo Luật Kế toán 2015 : ‘‘Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức th c hiện các chu n m c và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức th c hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản lưu gi tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán ’’.
Từ các khái niệm trên có thể rút ra khái niệm về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp một cách đầy đủ như sau: ‘Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp là quá trình thiết lập các mối quan hệ ph h p, c định hướng gi a các nhân tố cấu thành n n một hệ thống bao g m tổ chức bộ máy kế toán và tổ chức vận dụng các chính sách, chế độ quản lý tài chính, phư ng 9 pháp kế toán, nguyên tắc kế toán, phương pháp, phương tiện tính toán nhằm đảm bảo kế toán phát huy được vai tro về nghiệm vụ của mình ’’. Tuy các cách tiếp cận và luận giải khác về tổ chức công tác kế toán nhung đều có mục đích chung là huớng tới việc sắp xếp, tổ chức các công việc mà kế toán cần phải thực hiện tốt chức năng tổ chức thu nhận, xử lý, phân tí ch và cung cấp thông tin kế toán tài chính một cách kịp thời, đầy đủ phục vụ cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở cả tầm vĩ mô và tầm vi mô. Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức nhân sự kế toán theo các phần hành kế toán cụ thể, thực hiện các phuơng pháp phù hợp với yêu cầu thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính, phù hợp với đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ việc điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Nội dung của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp bảo hiểm - Xác lập mô hình tổ chức công tác kế toán phù hợp với những đặc điểm về quản lý của đơn vị ( có thể theo mô hình tập trung, hoặc phân tán, hoặc kết hợp vừa tập trung vừa phân tán).
- Tổ chức bộ máy nhân sự của kế toán theo mô hình đã xác lập. Qua đó, xác lập các quan hệ cũng nhu cơ chế hoạt động của bộ máy để thực hiện có hiệu quả nhất đối với toàn bộ công tác kế toán của đơn v. - Tổ chức sắp xếp các khối luợng của công tác kế toán. Nội dung tổ chức sắp xếp này đ ợc tiến hành theo các giai đoạn của quá trình hạch toán kế toán nhằm cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh cho quản tr doanh nghiệp.
Yêu cầu, nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp b ảo hiểm Để phát huy chức năng và vai trò quan trọng trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đòi hỏi phải tổ chức 10 công tác kế toán khoa học, hợp lý nhằm cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và trung thực, đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường,định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phù hợp và đáp ứng các yêu cầu của cơ chế quản lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi việc tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp phải tuân theo những nguyên tắc sau: - Phải tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và phù hợp với chính sách, chế độ, thể lệ, quy chế hiện hành. - Phải phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, quy mô và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp. - Phù hợp với biên chế đội ngũ và năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, nhân viên kế toán hiện có.
- Phải đảm bảo thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ kế toán trong đơn vị, thu nhận, kiểm tra, xử lý và cung cấp thông tin kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý, quản trị của đơn vị và của Nhà nước. - Phải đảm bảo được những yêu cầu của thông tin kế toán, đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, tiết kiệm, hiệu quả và ứng dụng tin học vào nâng cao chất l ợng hoạt động của công tác kế toán. Những nguyên tắc trên đòi hỏi phải được thực hiện một cách đồng bộ mới có thể tổ chức thực hiện tốt và đầy đủ các nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp. Căn cứ và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp b ảo hiểm * Căn cứ tổ chức công tác kế toán: Để tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý, doanh nghiệp cần phải dựa vào các căn cứ sau: 11 - Căn cứ vào chế độ về quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước nói chung và Luật Kế toán, chuẩn mực kế toán, chế độ, thể lệ kế toán hiện hành và các quy định Pháp luật liên quan đến kế toán nói riêng.
- Căn cứ vào đặc điểm, tính chất, mục đích, quy mô, phạm vi (địa bàn), bộ máy hoạt động và bộ máy quản lý của doanh nghiệp. - Căn cứ vào khả năng và trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán hiện có củadoanh nghiệp. - Căn cứ trình độ trang thiết bị và sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán ở doanh nghiệp. * Nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán: - Tổ chức hợp lý bộ máy kế toán ở đơn v ị để thực hiện toàn bộ công việc tài chính, kế toán, thống kê ở đơn v ị.
Tùy khối lượng công việc và biên chế bộ máy kế toán để xác định mô hình bộ máy kế toán ở đơn vị và phân công, phân nhiệm công việc cho từng bộ phận kế toán, từng nhân viên kế toán. - Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và chế độ kế toán hiện hành, tổ chức vận d ng hình thức kế toán hợp l , các phương tiện kỹ thuật tính toán hiện có nhằm đảm bảo chất lượng của thông tin kế toán. - Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán, mối quan hệ giữa bộ máy kế toán với bộ máy quản lý, các bộ phận chức năng khác trong đơn v về các công việc có liên quan đến công tác kế toán, tài ch nh, thống kê ở đơn v. - Tổ chức hướng dẫn mọi người lao động trong đơn v ị nắm được và chấp hành các chế độ, thể lệ về quản l kinh tế tài ch nh nói chung và chế độ kế toán nói riêng để mọi ng ời có thể thực hiện các nghiệp v kinh tế tài chính phát sinh ở đơn vị một cách đúng đắn và có hiểu biết.
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1.1 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán - Mục đích hệ thống kế toán Kế toán ra đời và phát triển gắn với sự phát triển của nền sản xuất xã hội,đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ cho công tác quản lý kinh tế tài chính củacác chủ thể. Sự phát triển của kế toán dẫn đến việc nhìn nhận kế toán là một công cụ quản lý, một nghề nghiệp và một lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Cho dù tiếp cận kế toán từ góc độ nào, kế toán cũng bao gồm những nội dung cơ bản là: Thu thập thông tin, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng sử dụng. Hội nhập kinh tế quốc tế là gắn kết nền kinh tế của quốc gia với nền kinh tế khu vực và thế giới, là quá trình từng bước xóa bỏ những rào cản, tiến tới tự do hóa về thương mại, dị ch vụ, vốn và lao động giữa các nước trong khu vực và thế giới, là sự chấp nhận tuân thủ những quy định chung trong hợp tác và cạnh tranh của các thành viên.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển kinh tế quốc gia và quốc tế, thúc đẩy quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa. Hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu d n đến hội nhập về kế toán. Trong bối cảnh đó kế toán động giữ vai trò chủ đạo gắn liền với lý thuyết doanh nghiệp; kế toán vi mô và kế toán vĩ mô cùng tồn tại trong đó, kế toán vi mô mang tính phổ biến; cơ sở tiền mặt và dồn tích đều được vận dụng, trong đó cơ sở dồn t ch chủ yếu đ ợc vận d ng trong kế toán kinh doanh. Cơ sở tiền mặt chủ yếu đ ợc vận d ng trong kế toán công.
Hệ thống các nguyên tắc kế toán là l thuyết có t nh khả biến và tương đối, tạo nền tảng cơ sở cho việc ghi nhận, đo lường các đối tượng kế toán trong những hoàn cảnh điều kiện c thể. T nh chất khả biến của nguyên tắc kế toán đ ợc hiểu là khả năng lựa chọn nguyên tắc kế toán này 13 hoặc nguyên tắc kế toán khác trong trong việc xử lý những nghiệp vụ kinh tế tài chính có cùng bản chất trong hoàn cảnh tương tự. Đ ể lựa chọn một nguyên tắc kế toán thông thường phải căn cứ vào các tiêu chuẩn như tính hữu dụng, t ính khách quan và t í nh khả thi.