CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LY LUẬN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái quát tổ chức công tác kế toán của NHTM 1. Khái niệm kế toán ngân hàng Ke toán ngân hàng là việc thu thập, ghi chép, xử lý, phân tích các nghiệp vụ kinh tế, tài chính về hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng dưới hình thức chủ yếu là giá trị để phán ánh, kiểm tra toàn bộ hoạt động kinh doanh của đơn vị ngân hàng, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý hoạt động tiền tệ ở ngân hàng ở tầm vĩ mô và vi mô, cung cấp thông tin cho các tổ chức, cá nhân theo qui định của Pháp luật ( Kế toán ngân hàng, Học viện ngân hàng - Chủ biên ThS. Đinh Đức Thịnh và ThS Nguyễn Hồng Yến NXB Thống kê 2011).
Đối tượng kế toán ngân hàng • Là công cụ quản lý kinh tế - tài chính, đối tượng phản ánh trước hết của kế toán ngân hàng là vốn và sự vận động của vốn. Vốn của hệ thống ngân hàng nói chung hay từng đơn vị ngân hàng đơn nói riêng luôn tồn tại dưới hai hình thức là nguồn vốn và sử dụng vốn. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại chỉ những nguồn lực tài chính mà hệ thống ngân hàng có thể dựa vào để thực hiện các hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ tài chính đối với nền kinh tế gồm : - Vốn chủ sở hữu - Nguồn vốn huy động Sử dụng vốn của ngân hàng thương mại là hoạt động mà Ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn của mình để hình thành các tài sản ( ngân quỹ, cho vay, đầu tư, tài sản cố định.) trực tiếp hoặc gián tiếp mang lại thu nhập cho ngân hàng hoặc phát huy vai trò phục vụ hoạt động sinh lời của ngân hàng: - Chi mua sắm TSCĐ , công cụ lao động, phương tiện làm việc,. - Cho vay, - Đầu tư kinh doanh chứng khoán, vàng bạc, ngoại tệ 7 - Cấp vốn cho đơn vị phụ thuộc - Dùng góp vốn liên doanh, liên kết, mua cổ phần,.
- Dùng một phần vốn khả dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản - Sử dụng vốn vào các mục đích khác • Bên cạnh việc phản ánh vốn và sự vận động của vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh, kế toán ngân hàng còn phản ánh kết quả của quá trình vận động vốn của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định. Nói cách khác , kế toán ngân hàng phải phản ánh các khoản thu nhập, các khoản chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh. • Là các đơn vị trung gian tài chính trong nền kinh tế các ngân hàng đóng vai trò chủ yếu trong cung ứng dịch vụ thanh toán cho nền kinh kế, đồng thời ngân hàng có nhiều giao dịch kỳ hạn, giao dịch cam kết, bảo lãnh. với các đối tác và khách hàng ở trong và ngoài nước.
Vì vậy, đối tượng kế toán ngân hàng còn có các khoản thanh toán trong và ngoài ngân hàng, các khoản cam kết, bảo lãnh các giấy tờ có giá. Đặc điểm đối tượng của kế toán ngân hàng - Chủ yếu tồn tại dưới hình thái giá trị (tiền tệ) kể cả nguồn gốc hình thành cũng như quá trình vận động. - Có mối quan hệ chặt chẽ, thường xuyên với đối tượng của các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế thông qua quan hệ tiền gửi, tiền vay, thanh toán. giữa ngân hàng với khách hàng.
- Có quy mô và phạm vi lớn và có sự tuần hoàn thường xuyên liên tục theo yêu cầu chu chuyển vốn của nên kinh tế và theo yêu cầu quản lý kinh doanh của Ngân hàng. - Đối tượng của kế toán ngân hàng vừa là kế toán Ngân hàng Ngân hàng, vừa là kế toán cho xã hội thông qua các giao dịch giữa Ngân hàng và khách hàng. Kế toán ngân hàng bao gồm các phần hành chính sau: - Kế toán nghiệp vụ ngân quỹ và thanh toán trong Ngân hàng - Kế toán nguồn vốn hoạt động của NHTM - Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư tài chính - Kế toán nghiệp vụ kinh doang ngoại tệ, vàng đá quý 8 - Ke toán nghiệp vụ thanh toán và tín dụng quốc tế - Kế toán tài sản cố định và công cụ dụng cụ - Nghiệp vụ thanh toán vốn giữa các ngân hàng - Vốn chủ sở hữu trong ngân hàng thương mại - Kế toán thu nhập chi phí và kế quả kinh doanh - Báo cáo kế toán, báo cáo tài chính trong ngân hàng 1. Đặc điểm của kế toán ngân hàng - Kế toán ngân hàng mang tính xã hội cao.
- Kế toán ngân hàng tiến hành đồng thời giữa kiểm soát, xử lý nghiệp vụ và ghi sổ sách kế toán khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh vì vậy kế toán Ngân hàng còn gọi là kế toán giao dịch. - Kế toán ngân hàng có tính chính xác kịp thời rất cao. - Chứng từ kế toán ngân hàng có khối lượng lớn, tổ chức luân chuyển phức tạp và gắn liền với việc luân chuyển vốn của nền kinh tế. - Kế toán Ngân hàng có tính tập trung và thống nhất cao giữa Hội sở và chi nhánh nhằm phục vụ cho yêu cầu hạch toán kinh tế toàn ngành.
- Kế toán ngân hàng sử dụng tiền tệ (nội tệ, ngoại tệ) làm đơn vị đo lường chủ yếu trong hầu hết các mặt nghiệp vụ. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán trong NHTM * Vai trò: Là bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của nền kinh tế quốc dân, kế toán ngân hàng phát huy đầy đủ vai trò kế toán nói chung đồng thời phát huy vai trò trong việc phục vụ lãnh đạo điều hành hoạt động ngân hàng. - Thứ nhất: Cung cấp thông tin về hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, kết quả tài chính phục vụ chỉ đạo điều hành quản trị các mặt hoạt động nghiệp vụ đạt hiệu quả cao và phục vụ các bên quan tâm đến hoạt động ngân hàng. - Thứ hai, bảo vệ an toàn tài sản của đơn vị.
Do tổ chức một cách khoa học, đầy đủ, chính xác toàn bộ tài sản hiện có cũng như sự vận động của chúng nên kế 9 toán đã giúp cho các chủ ngân hàng quản lý chặt chẽ tài sản của mình nhằm tránh thiếu hụt về mặt số lượng và nâng cao hiệu quả trong quá trình sử dụng tài sản. - Thứ ba, quản lý hoạt động tài chính ngân hàng, công tác kế toán phản ánh được đầy đủ, chính xác các khoản thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh của từng đơn vị cũng như toàn hệ thống ngân hàng, từ đó giúp quản lý vốn, tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, kinh doanh có lãi nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển cho một ngân hàng. Thứ tư, đáp ứng yêu cầu công tác thanh tra, kiểm soát, kiểm soát, kiểm toán và phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng. Kế toán ngân hàng, Học viện Ngân hàng - Chủ biên ThS.
Đinh Đức Thịnh và Ths. Nguyễn Hồng Yến; NXB Thống kê 2011. Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế thế giới phát triển theo quy mô rộng lớn đa dạng hóa, đa phương hóa các thành phần kinh tế thì kế toán ngân hàng ngoài bốn vai trò quan trọng của nó; với tư cách là kế toán của toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia kế toán ngân hàng còn được xem như “thước đo” sức khỏe của nền kinh tế bởi hầu hết các chuyển biến của nền kinh tế đều thông qua hoạt động kế toán ngân hàng. Vì thế để chứng tỏ một nền kinh tế “khỏe” thì vai trò của hệ thống ngân hàng nói chung và kế toán ngân hàng trong tình trạng hiện nay là vô cùng quan trọng.
*Nhiệm vụ: Với chức năng ghi chép, tính toán, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính, phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả quản lý, kinh doanh ngân hàng, kế toán ngân hàng thương mại có nhiệm vụ sau: - Ghi chép tính toán, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời các hoạt động kinh tế tài chính của các ngân hàng theo các phương pháp của kế toán, pháp luật nhà nước và các chuẩn mực kế toán hiện hành trên cơ sở đó góp phần bảo vệ an toàn tài sản của bản thân ngân hàng cũng như tài sản của toàn xã hội. - Phân loại nghiệp vụ tổng hợp số liệu theo chỉ tiêu nhằm cung cấp thông tin kinh tế, tài chính một cách đầy đủ chính xác, kịp thời các hoạt động kinh doanh ngân hàng và lãnh đạo thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước. 10 - Giám sát quá trình sử dụng tài sản (vốn) nhằm tránh tổn thất tài sản và nâng cao hiệu quả kinh doanh trong quá trình sử dụng tài sản thông qua việc kiểm soát trước tiên các chứng từ kế toán ở trong đơn vị ngân hàng cũng như toàn hệ thống. Trên cơ sở đó góp phần tăng cường kỷ luật tài chính củng cố chế độ hạch toán kinh tế trong ngân hàng cũng như toàn bộ nền kinh tế.
- Tổ chức tốt công tác kế toán ở mỗi đơn vị ngân hàng cũng như trong toàn hệ thống. Thực hiện giao dịch phục vụ khách hàng một cách khoa học, văn minh. Những nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản áp dụng trong kế toán ngân hàng Các nguyên tắc kế toán cơ bản: S Cơ sở dồn tích Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phải được ghi sổ tại thời điểm phát sinh chứ không căn cứ thời điểm thực tế thu hoặc chi. S Hoạt động liên tục Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là một ngân hàng đang trong quá trình hoạt động và sẽ tiếp tục hoạt động trong tương lai gần.
S Giá gốc Giá gốc của tài sản được ghi chép theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả, hoặc ghi theo giá hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. S Phù hợp Việc ghi nhận doanh thu chi phí phải phù hợp với nhau. Khi nhận một khoan doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. S Nhất quán Kế toán phải áp dụng nhất quán các chính sách và phương pháp kế toán ít nhất trong một niên độ kế toán.
S Thận trọng 11 Cần có sự xem xét phán đoán trong khi lập các ước tính kế toán như: - Trích lập các khoản dự phòng không quá cao, không quá thấp - Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập.