Chương 1. Lý luận về Tổ chức công tác kế toán trong Ngân hàng thương mại 6 Chương 2. Thực trạng Tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam Chương 3. Hoàn thiện Tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam Do kiến thức, kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, thời gian nghiên cứu về thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam có hạn, nên bài luận văn của em còn nhiều thiếu sót.
Vì vậy, em mong nhận được sự góp ý từ các thầy giáo, cô giáo để bài luận văn của em thêm hoàn thiện. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giảng viên TS.Lê Thị Thu Hà, cùng sự giúp đỡ của các đồng nghiệp thuộc Khối tài chính kế hoạch Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam đã giúp em hoàn thành bài luận văn này. LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm Theo Điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2018: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Ngân hàng là một doanh nghiệp có quy mô vốn chủ sở hữu và tổng tài sản lớn, có mạng lưới các chi nhánh rộng khắp cả nước, theo quy định của Việt Nam hiện nay thì ngân hàng phải có vốn điều lệ tối thiểu là ba nghìn tỷ đồng. Tuy có vốn chủ sở hữu lớn nhưng vốn của ngân hàng lại chủ yếu có được từ nợ phải trả huy động được từ các cá nhân, tổ chức bên ngoài ngân hàng, nên hoạt động của ngân hàng thương mại cũng có rủi ro cao hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác, một phần do hệ số nợ cao, một phần do các nghiệp vụ của ngân hàng đa dạng, phong phú và có tính chất phức tạp. Cũng vì là loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên ngân hàng thương mại chịu sự quản lý chặt chẽ của hệ thống pháp luật.
Chức năng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đóng vai trò then chốt trong sự phát triển nền kinh tế xã hội của đất nước, do đảm nhiệm những chức năng quan trọng sau: * Chức năng trung gian tín dụng Đây được coi là chức năng quan trọng nhất của NHTM, do chức năng này đã phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay. Hơn nữa đây cũng là tiền đề các chức năng khác của ngân hàng được thực hiện. Với chức năng này, ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay, sau đó hình thành lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất nhận tiền gửi. Ngân hàng thương mại chính là trung gian kết nối giữa cá nhân, tổ chức có vốn với các cá nhân, tổ chức cần vốn.
Mô tả chức năng trung gian tín dụng của Ngân hàng Thương mại Chức năng này không chỉ đem lại lợi ích cho ngân hàng mà còn đem lại lợi ích cho cả người đi vay và người cho vay. Người cho vay có thể thu lợi từ khoản vốn nhàn rỗi của mình thông qua lãi tiền gửi, hơn nữa khoản tiền nhàn rỗi của họ sẽ được đảm bảo an toàn bằng sự quản lý của ngân hàng. Người đi vay sẽ được đáp ứng nhu cầu vốn của mình để phục vụ việc tiêu dùng, kinh doanh, và cũng không tốn quá nhiều chi phí cho việc tìm kiếm nguồn vốn riêng lẻ. Ngoài ra, chức năng này còn đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế vì thông qua nó nhu cầu vốn của doanh nghiệp được đáp ứng để phục vụ vào công việc tái SXKD và mở rộng quy mô sản xuất.
Trong NHTM thì hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay là hai hoạt động quan trọng, và đem lại lợi nhuận chính cho ngân hàng. * Chức năng trung gian thanh toán 9 Khi khách hàng có nhu cầu sử dụng tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ, hay chuyển tiền đến một tài khoản khác, khách hàng sẽ yêu cầu ngân hàng để ngân hàng tiến hành các giao dịch đó. Phương thức thanh toán được ngân hàng cung cấp rất đa dạng cả ở trong nước và nước ngoài để phục vụ khách hàng như séc, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng.dựa vào nhu cầu khác nhau, mà khách hàng có thể chọn các phương thức thanh toán khác nhau. Nhờ có các phương thức thanh toán ngân hàng cung cấp, các chủ thể kinh tế không phải nắm giữ nhiều tiền mặt, có thể thanh toán dù khoảng cách địa lý xa hay gần, không nhất thiết phải gặp mặt trực tiếp các chủ nợ.
Vì vậy, thời gian và chi phí sẽ được giảm đi rất nhiều, hơn nữa thanh toán qua ngân hàng có tính an toàn rất cao. Cũng nhờ chức năng này tốc độ thanh toán nhanh hơn, lưu thông hàng hóa được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt lưu thông ngoài thị trường. Khi cung cấp các phương tiện thanh toán, ngân hàng sẽ thu lệ phí, đây là một khoản làm tăng lợi nhuận của ngân hàng.
Hơn nữa, việc thực hiện chức năng thanh toán tạo điều kiện để ngân hàng huy động tiền gửi của người dân cũng như doanh nghiệp ở mức tối đa, tạo nguồn vốn cho quá trình đầu tư, mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Chức năng thanh toán chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền. * Chức năng tạo tiền NHTM không có chức năng phát hành tiền, nhưng có khả năng tạo ra tiền ghi sổ, được thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng. Chức năng này được thực hiện thông qua hoạt động phát tín dụng, ngân hàng không chỉ cho vay dựa trên số tiền gửi mà mình huy động được, mà khi thực hiện giải ngân thì số tiền khách hàng vay sẽ được ghi thẳng vào tài khoản của người đi vay, và người vay sẽ dùng các phương thức thanh toán để tiến hành chuyển tiền.
Nhờ lượng 10 tiền ghi sổ này mà NHTM đã đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán ngày càng tăng của người dân. Giờ đây tiền sử dụng để giao dịch không còn chỉ là tiền giấy do NHNN phát hành mà còn bao gồm một lượng không hề nhỏ tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra. Từ đó, sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí lớn của việc in ấn, phát hành tiền giấy, cũng như làm tăng tổng phương diện thanh toán của nền kinh tế. Chức năng này cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ, tín dụng ngân hàng tăng sẽ làm tăng khả năng tạo tiền từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng.
Các chức năng trên có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau. Chức năng trung gian tín dụng tạo cơ sở cho việc thực hiện chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Ngược lại, chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần đẩy mạnh việc mở rộng tín dụng. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Theo Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam quy định thì: “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước, cũng như từng tổ chức, xí nghiệp” Theo Luật kế toán Việt Nam năm 2015 quy định thì: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” Để đảm bảo doanh nghiệp được ổn định và phát triển đúng lộ trình, thì trong quá trình hoạt động kinh doanh các nhà quản lý phải tiến hành tổ chức 11 quản lý doanh nghiệp. Và tổ chức công tác kế toán là một phần rất quan trọng trong các nội dung thuộc về tổ chức quản lý doanh nghiệp. Theo Luật kế toán năm 2015: “Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản lưu trữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán” Theo giáo trình kế toán tài chính của Học viện tài chính: “Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán để liên kết các yếu tố cấu thành, các công việc của kế toán nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp” và “Tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp. Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải giải quyết được hai phương diện: tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán, và các phương pháp, phương tiện tính toán nhằm đạt được mục đích của công tác kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các nhân viên kế toán thực hiện tốt công tác kế toán trong doanh nghiệp.” Tuy đã có rất nhiều luận giải khác nhau về TCCTKT, nhưng nhìn chung thì TCCTKT là sự thiết lập mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán, tổ chức việc thu thập, phân tích và cung cấp thông tin về tình hình hoạt động của DN nhằm điều hành việc SXKD có hiệu quả.