CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Một số khái niệm và phân loại hàng tồn kho 1.1Khái niệm hàng tồn kho 1.1 Các khái niệm chung Khái niệm về tài sản: Trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01), Tài sản được hiểu là những nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Khái niệm tài sản này có một số điểm cần phải làm rõ như sau: Thứ nhất, một khoản mục được coi là tài sản khi nó có thể đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho đơn vị kế toán vì lợi ích kinh tế thu được trong tương lai không thể hoàn toàn chắc chắn mà chỉ là sự ước đoái hợp lý trên cơ sở các bằng chứng có sẵn. Lợi ích kinh tế ở đây được hiểu là nguồn lực kinh tế, tức là nó vừa phải đảm bảo tính khan hiếm vừa đảm bảo đặc tính sử dụng. Nếu thiếu một trong các điều kiện này, vật đó không được xếp vào là nguồn lực kinh tế.
Đặc tính sử dụng của một khoản nào đó được thể hiện thông qua khả năng cung cấp dịch vụ của nó trong tương lai hoặc quyền lợi kinh tế trong tương lai. Thứ hai, một khoản nào đó được coi là tài sản khi nó phải được doanh nghiệp kiểm soát. Kế toán không đề cập đến nguồn lợi ích kinh tế nói chung mà chỉ liên quan đến nguồn lợi ích do một doanh nghiệp cụ thể kiểm soát. Tính kiểm soát ở đây được hiểu là quyền sử dụng hoặc kiểm soát một vật nào đó, không phải là tính sở hữu nó.
Điều này lý giải vì sao tài sản thuê tài chính lại được báo cáo trên Bảng cân đối kế toán của bên thuê cho dù quyền sở hữu nó thuộc về bên cho thuê. Thứ ba, một khoản nào đó được coi là tài sản thì bắt buộc phải là kết quả của nghiệp vụ quá khứ. Điều kiện này là bắt buộc để đảm bảo những tài sản ngẫu nhiên không được coi là tài sản của đơn vị. Nếu một thiết bị đã được đơn vị kế toán mua thì thiết bị đó là tài sản của đơn vị đó, nhưng nếu như thiết bị đó sẽ được đơn vị đó mua thì nó không được báo cáo như là tài sản của đơn vị.
8 Như vậy, trong khái niệm kế toán, ba điều kiện cần thiết để một khoản mục được ghi nhận như là một khoản tài sản, bao gồm: khả năng cung cấp lợi ích kinh tế trong tương lai, đựơc đơn vị kế toán cụ thể kiểm soát và kết quả của nghiệp vụ quá khứ. Khái niệm về tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền. Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.
Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá ba tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển khoản thành tiền. Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư tài chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu kho Bạc, kỳ phiếu ngân hàng .) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm. Các khoản phải thu ngắn hạn: là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm. Hàng tồn kho: bao gồm vật tư, hàng hóa, thành phẩm, sản phẩm dở dang.
Tài sản ngắn hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác. Khái niệm về giá gốc: Giá gốc là khoản tiền hoặc khoản tương đương tiền mà đơn vị phải trả, hoặc đã trả để có được tài sản đó. Khái niệm giá trị hợp lý: Giá trị hợp lý (Fair Value) lần đầu tiên được IASB đề cập trong IAS 16 (Chuẩn mực kế toán quốc tế 16) - Tài sản, nhà cửa và thiết bị - như sau: Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể đem trao đổi giữa các bên có hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá. Ở Việt Nam, Giá trị hợp lý đã được đề cập đến từ hơn 10 năm nay, và đầu tiên được định nghĩa trong Chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác: Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong trao 9 đổi ngang giá.
Trong kế toán Việt Nam, Giá trị hợp lý được sử dụng chủ yếu trong ghi nhận ban đầu, chẳng hạn: ghi nhận ban đầu, chẳng hạn: ghi nhận ban đầu tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác, ghi nhận ban đầu và báo cáo các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh.2 Khái niệm về hàng tồn kho Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 02 (IAS 02) hàng tồn kho là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường, trong quá trình sản xuất hoặc cung cấp các dịch vụ. Như vậy theo IAS 02 thì hàng tồn kho bao gồm hàng hóa mua vào để bán ra, thành phẩm tồn kho, vật dụng chuẩn bị đưa vào quá trình sản xuất, giá trị của sản phẩm dở dang. Cũng theo IAS thì hàng tồn kho không bao gồm những hàng hóa, thành phẩm, vật tư hư hỏng, lỗi thời, không thể dùng được trong sản xuất kinh doanh. Thuật ngữ hàng tồn kho đã chính thức được thừa nhận trong hệ thống kế toán Việt Nam thay thế cho thuật ngữ “tài sản dự trữ” trước đây.
Khái niệm hàng tồn kho trong chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam về cơ bản là thống nhất với khái niệm hàng tồn kho trong chuẩn mực kế toán quốc tế số 02. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – hàng tồn kho thì “Hàng tồn kho là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường; đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang; nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.” Trong chế độ kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam đã bổ sung thêm điều kiện để xác định hàng tồn kho đó là quyền sở hữu về tài sản. Theo đó, đã xác định rõ ràng những vấn đề nêu trên: đó là số hàng mua đang đi đường, hàng hóa đang gửi bán nếu thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thì được tính là hàng tồn kho của doanh nghiệp; còn hàng mà doanh nghiệp nhận ký gửi, nhận bán hộ không thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Bộ Tài Chính, Hàng tồn kho được hiểu “Hàng tồn kho là những tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp dưới hình thái vật chất.
Hàng tồn kho của doanh nghiệp có thể mua từ bên ngoài do doanh nghiệp sản xuất ra để dùng cho hoạt động kinh 10 doanh của doanh nghiệp hoặc để cung cấp dịch vụ hoặc để bán. Hàng tồn kho của doanh nghiệp bao gồm: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở danh, thành phẩm, hàng hóa được lưu giữ tại kho bảo thuế của doanh nghiệp.” Như vậy hàng tồn kho là bộ phận tài sản quan trọng trong mỗi doanh nghiệp, có chức năng ổn định giá cả hàng hóa trên thị trường, liên kết các quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp theo một chuỗi liên tục, cung cấp thông tin cho nhà quản trị để đưa ra các sách lược, kế hoạch kinh doanh phù hợp. Tóm lại hàng tồn kho là tài sản lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, tồn tại dưới hình thái vật chất, bao gồm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, thành phầm, hàng hóa đang ở trong kho hoặc đang đi đường, đang gửi gia công chế biến hoặc gửi bán và sản phẩm dở dang đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Hàng tồn kho bao gồm nhiều loại như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và thành phẩm.
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động đã được thay đổi do lao động có ích tác động vào nó. Nguyên vật liệu là đối tượng lao động nhưng không phải bất cứ một đối tượng lao động nào cũng là nguyên vật liệumà chỉ trong điều kiện đối tượng lao động mà do lao động làm ra thì mới hình thành nguyên vật liệu. Sản phẩm dở dang cuối kỳ là những sản phẩm tại thời điểm tính giá thành chưa hoàn thành về mặt kỹ thuật sản phẩm và thủ tục quản lý ở các giai đoạn của quy trình công nghệ chế biến sản phẩm. Bán thành phẩm là những sản phẩm mới hoàn thành ở một (hoặc một vài) giai đoạn chế biến nào đó của quy định công nghệ sản xuất sản phẩm qua kiểm tra kỹ thuật được xác định là phù hợp với tiêu chuẩn, chất lượng quy định.
Nửa thành phẩm chủ yếu được sử dụng để tiếp tục chế biến thành phẩm hoặc có thể đem bán ra ngoài. Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc quy trình công nghệ sản xuất do doanh nghiệp thực hiện hoặc thuê ngoài gia công chế biến, đã qua kiểm tra đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, được nhập kho hoặc giao trực tiếp cho khách hàng.2Phân loại hàng tồn kho Hàng tồn kho trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, đa dạng về chủng loại, khác nhau về đặc điểm, tính chất thương phẩm, điều kiện bảo quản, nguồn hình thành và có vai trò, công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Việc xác định 11 và ghi nhận hàng tồn kho đòi hỏi phải được quan tâm thường xuyên vì hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản lưu động của doanh nghiệp. Để quản lý tốt hàng tồn kho, tính đúng và tính đủ giá gốc hàng tồn kho cần phân loại và sắp xết hàng tồn kho theo những tiêu thức nhất định.1 Phân loại nguyên vật liệu Trong các Doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu bao gồm rất nhiều loại, nhiều thứ với nội dung kinh tế công dụng và tính năng lý hoá khác nhau.