MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế hiện nay, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận (LN) luôn là mục tiêu cơ bản của các doanh nghiệp (DN), chi phối mọi hoạt động của DN. Để phân tích, đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), doanh nghiệp cần dựa trên hai chỉ tiêu cơ bản: chi phí (CP) DN bỏ ra và doanh thu (DT) thu được. Muốn xác định đúng CP bỏ ra, DT thu được thì DN phải hạch toán đúng doanh thu, chi phí.
Do vậy, tổ chức tốt kế toán DT, CP để đảm bảo xác định đúng kết quả kinh doanh (KQKD) của DN là yêu cầu cấp bách và ngày càng phải hoàn thiện. Đồng thời, tổ chức tốt công tác kế toán DT, CP giúp DN đưa ra những chiến lược và có những quyết định đúng đắn. Công tác kế toán DT, CP, xác định kết quả kinh doanh có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc quản lý chi phí kinh doanh, nó giúp cho nguồn vốn của DN lưu thông dễ dàng hơn và hiệu quả sử dụng vốn cao hơn. Hay nói cách khác, quản lý chi phí quyết định đến khả năng sinh lời cũng như khả năng tồn tại của hầu hết các DN không kể là quy mô lớn hay nhỏ.
Hiện nay, doanh nghiệp điện lực là một trong những ngành độc quyền và có tầm quan trọng rất quan trọng đối với đời sống của người dân, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đời sống người dân ngày càng được cải thiện,việc tiêu thụ điện năng của nước ta mỗi năm rất cao, do vậy việc hạch toán công tác kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh vô cùng cần thiết và quan trọng tránh gây nhầm lẫn sai sót. Trên thực tế, công tác kế toán DT, CP, xác định KQKD trong công ty điện lực vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc như sự chưa thống nhất trong quy định về hạch toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và cách lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Nhận thức rõ tầm quan trọng của kế toán DT, CP và KQKD trong việc giúp cho Nhà quản trị đưa ra các quyết định SXKD đúng, xuất phát từ những bất cập trong kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh tại công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương.
Tôi lựa chọn đề tài “Kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh tại công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương” làm đề tài 2 nghiên cứu của mình. Mục đích chính của đề tài là tìm ra nguyên nhân những hạn chế trong công tác kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh tại công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao công tác kế toán tại công ty nói chung và công tác doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH MTV Điện lực nói riêng. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nội dung về kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh đã được nhiều tác giả nói đến thông qua các luận văn, luận án, bài báo, tạp chí. Sau đây, tôi xin trình bày một số luận văn, luận án, bài báo nghiên cứu về kế toán doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh, cụ thể như sau: Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất thép thuộc Tổng Công ty thép Việt Nam”.
Luận án đã đưa ra được các vấn đề sau: Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về kế toán CP, DT, KQKD trong các DNSX. Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu CMKT quốc tế về kế toán CP, DT, KQKD và mô hình kế toán của 2 nước Pháp, Mỹ. Luận án đã chỉ ra mô hình tổ chức bộ máy kế toán áp dụng cho các DNSX ở Việt Nam nên theo mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT trên cùng một hệ thống kế toán. Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kế toán CP, DT, KQKD trong các DN SX thép thuộc Tổng công ty Thép Việt Nam, tác giả đã đưa ra những bất cập và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kế toán CP, DT, KQKD trong các DN SX thép thuộc Tổng Công ty Thép Việt Nam dưới góc độ KTTC và KTQT.
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Anh Thủy bảo vệ năm 2009 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thiết bị y tế trên địa bàn Hà Nội”. Trong bài luận văn của mình tác giả đã đưa ra những ưu điểm trong kế toán BH và xác định KQKD của các DN kinh doanh thiết bị y tế trên địa bàn Hà Nội như sau: Việc tổ chức lập 3 và luân chuyển chứng từ được thực hiện chặt chẽ, các tài khoản TK sử dụng đã được chi tiết theo từng HĐKD, từng đơn vị trực thuộc, sổ sách chi tiết và tổng hợp được thiết kế với mẫu sổ đơn giản nhưng vẫn đảm bảo cung cấp thông tin cho ban lãnh đạo. Bên cạnh những ưu điểm đạt được vẫn còn một số hạn chế như: Kế toán chưa theo dõi chi tiết DT, CP và KQKD của từng mặt hàng trong DN, hơn nữa công ty vi phạm nguyên tắc ghi nhận DT, CP. Thành công chính của luận văn là tác giả đã phân tích được thực trạng của kế toán BH và xác định KQKD, tác giả cũng đã đưa ra được giải pháp hoàn thiện kế toán BH và xác định KQKD dưới góc độ KTTC và KTQT.
Trên góc độ kế toán tài chính, tác giả đề xuất nên xác định đúng thời điểm ghi nhận DT; hoàn thiện kế toán CP; phân bổ CP BH và CP QL DN nhằm đảm bảo nguyên tắc phù hợp. Dưới góc độ kế toán quản trị tác giả đề xuất lập dự toán DT, CP và KQKD. Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thị Thu Thủy bảo vệ năm 2011 tại Trường Đại học Thương mại với đề tài “Kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các công ty TNHH kinh doanh máy tính trên địa bàn thành phố Hà Nội” Trong luận văn của mình, tác giả nêu ra công tác kế toán DT, CP, KQKD tại các DN thương mại nói chung và tại các công ty TNHH kinh doanh máy tính trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện, đầy đủ, hệ thống và khoa học. Trong bài viết của mình, tác giả cũng cho rằng việc QL và tổ chức hạch toán DT, CP và KQKD kịp thời, đầy đủ, khoa học là rất cần thiết cho mỗi DN.
Qua đó, tác giả nhấn mạnh rằng việc QL và tổ chức tốt hạch toán DT, CP, KQKD là rất cần thiết nhằm mục đích, kiểm tra, giám sát đồng thời cung cấp TT kịp thời cho quá trình ra quyết định của Nhà quản trị. Luận văn cũng trình bày khái quát những lý luận cơ bản về DT, CP và KQKD trong các DN thương mại theo chế độ kế toán hiện hành; Nghiên cứu và khảo sát thực trạng về kế toán DT, CP và KQKD tại các công ty TNHH kinh doanh máy tính trên địa bàn thành phố Hà Nội; Qua đó đánh giá và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện kế toán DT, CP và KQKD tại các công ty TNHH kinh doanh máy tính trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trong luận văn của 4 mình, tác giả chỉ trình bày, phân tích kế toán DT, CP và KQKD dưới góc độ KTTC mà chưa làm rõ được kế toán DT, CP và KQKD dưới góc độ KTQT. Luận văn thạc sỹ của tác giả Đoàn Thị Kim Oanh bảo vệ năm 2009 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả dịch vụ viễn thông tại các đơn vị thuộc Tổng công ty viễn thông quân đội Viettel”.
Thành công chính của luận văn là tác giả đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận cơ bản về kế toán CP, DT và xác định KQKD dưới góc độ KTTC và KTQT. Trên cơ sở đó tác giả đã phân tích thực trạng và phương hướng hoàn thiện kế toán CP, DT và xác định KQKD dưới cả 2 góc độ KTTC và KTQT. Bài viết “Kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh thương mại ở một số nước phát triển và bài học cho Việt Nam” của tác giả Trần Hải Long, Trường Đại học Thương mại đăng trên Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 04 (129), 2014, trang 50 - 52. Bài viết đã trình bày kế toán DT, CP và KQKD thương mại theo kế toán Mỹ, kế toán Pháp và đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Trong từng hệ thống kế toán, tác giả đã nêu ra được khái niệm, bản chất, phân loại CP thương mại trong HĐKD thương mại; thời điểm ghi nhận DT, KQKD và các khái niệm liên quan tới giảm trừ DT. Bài viết cũng nhấn mạnh rằng “Hệ thống kế toán pháp quy định chặt chẽ và cụ thể cho từng phần hành kế toán, tạo ra sự thống nhất trong hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, đồng thời đảm bảo tính so sánh được của các số liệu kế toán qua các thời kỳ của DN”. Song tác giả cũng nhấn mạnh việc hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế trở nên phức tạp, làm giảm bớt sự chủ động của kế toán. Bên cạnh việc nêu công tác kế toán DT, CP và KQKD thương mại theo kế toán Mỹ, Pháp, bài viết cũng nêu ra bài học kinh nghiệm cho các DN thương mại ở Việt Nam.
Bài viết “Kế toán chi phí - thu nhập - xác định kết quả theo mô hình kế toán Mỹ, Pháp và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Phạm Tiến Hưng, Học viện Tài chính đăng trên Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 07 (132), trang 65 - 67, 2014. Trong bài viết này, tác giả đưa ra hai mô hình kế toán chi phí – Thu nhập - xác định KQKD ở hai cường quốc kinh tế là Mỹ, Pháp và rút ra 5 những bài học kinh nghiệp cho Việt Nam. Trong bài viết, tác giả nêu ra được 8 quyết định của Nhà quản lý ảnh hưởng tới TS, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu xoay quanh phương trình kế toán “TS = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu”. Bài viết chỉ ra rằng trong 8 loại nghiệp vụ liên quan tới 8 quyết định có hai loại nghiệp vụ làm phát sinh CP và hai nghiệp vụ làm phát sinh thu nhập.