CHƯƠNG 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đất đai cấp thành phố trực thuộc trung ương I. Một số khái niệm I. Khái niệm đất đai Theo Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc FAO: Đất đai là một tổng thể vật chất, bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên.
Những quan niệm tổng hợp hơn cho rằng đất đai là những tài nguyên sinh thái và tài nguyên kinh tế, xã hội. Theo quan điểm này, đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đất cùng với trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động kinh tế, xã hội của con người để lại trong quá khứ và hiện tại. Như vậy, quan niệm về đất có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Đất như là không gian; Đất như là cộng đồng lãnh thổ; Đất như là vị trí địa lý; Đất như là nguồn vốn; Đất như là môi trường; Đất như là tài sản. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý (cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội được Nhà nước giao quyền và cá nhân có thẩm quyền) lên các đối tượng (các khách thể) quản lý nhằm đạt được mục đích xác định.
Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Bộ luật Dân sự quy định "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật". Từ khi Luật Đất đai thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản dân sự đặc biệt (1993) thì quyền sở hữu đất đai thực chất cũng là quyền sở hữu một loại tài sản dân sự đặc biệt. Vì vậy, khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền năng của sở hữu nhà nước về đất đai bao gồm: quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai. Các quyền năng này được Nhà Sinh viên: Vũ Thị Trang 3 Khóa luận tốt nghiệp nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai.
Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước. Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm 15 nội dung đã quy định ở Điều 22, Luật Đất đai 2013 và tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản sau đây [1]: Thứ nhất: Nhà nước nắm chắc tình hình đất đai, tức là Nhà nước biết rõ các thông tin chính xác về số lượng đất đai, về chất lượng đất đai, về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai. Thứ hai: Nhà nước sở hữu toàn bộ quỹ đất đai, nhưng lại không trực tiếp sử dụng mà giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng. Thứ ba: Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng đất đai.
Hoạt động phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do người sử dụng cụ thể thực hiện. Thứ tư: Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai. Các hoạt động trên có mối quan hệ trong một thể thống nhất đều nhằm mục đích bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu Nhà nước về đất đai. Từ đó ta có thể hiểu quản lý nhà nước về đất đai như sau: Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Thẩm quyền và chức năng quản lý nhà nước về đất đai ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo luật pháp Việt Nam. Quản lý nhà nước đối với đất đai là công việc phức tạp, nhiều chủ thể cùng quản lý trên một đối tượng nhất định từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh, Sinh viên: Vũ Thị Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp huyện, phường (xã) tùy thuộc vào nội dung và phạm vi quản lý mà nhà nước quy định chức năng và thẩm quyền quản lý đất đai ở các mức độ khác nhau. UBND thành phố là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, quản lý nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, trong đó quản lý đất đai là một trong những nội dung quan trọng. Đặc điểm của đất đai Theo góc độ quản lí nhà nước, có thể thấy một số đặc điểm của đất đai như sau: I.
Giới hạn về diện tích Một trong các đặc điểm đặc biệt quan trọng của đất đai đó là tính giới hạn về diện tích. Đặc điểm này khiến cho đất đai trở nên cá biệt và khan hiếm vì vậy đất đai ngày càng quý giá đối với con người vì nó không thể được sinh sản, nở thêm, ngoài diện tích tự nhiên vốn có của quả đất. Đặc điểm này của đất đai đặt ra yêu cầu và những vấn đề lớn về quản lý và sử dụng đất trong phạm vi lãnh thổ từng quốc gia cũng như đối với mỗi cấp quản lý nhất định. Vị trí cố định Đất đai gắn liền với một vị trí cố định, một không gian nhất định, không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác.
Tính cố định của đất đai đồng thời quy định tính giới hạn về không gian gắn liền với môi trường mà đất đai chịu chi phối. Giá trị kinh tế của đất đai ở các vị trí khác nhau lại không giống nhau. Đất tại các vùng miền núi, hải đảo rất rộng và có giá trị thấp nhưng không thể vận chuyển về để bù đắp cho sự đắt đỏ, khan hiếm của đất đai tại các thành phố lớn. Vì vậy, cần hết sức lưu ý đặc điểm này khi định giá đất đai.
Không bị mất khi sử dụng Đất đai là một tài sản không bị hao mòn theo thời gian, trừ trường hợp bị tai biến thiên nhiên hủy hoại. Con người không thể tạo ra đất đai và đất đai không bị tiêu hao hay nảy nở trong quá trình sử dụng. Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh Sinh viên: Vũ Thị Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp cửu, (nếu biết sử dụng hợp lý) đặc biệt là trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như làm tăng hiệu quả sử dụng đất. Vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng những đặc tính của đất đai để tác động vào cây trồng làm tăng năng suất, giá trị sản lượng, khi đó đất đai là tư liệu lao động, nhưng cũng có khi con người lại thực hiện các hoạt động kinh tế xã hội trên đất thì lúc đó đất đai là đối tượng lao động.
Đất đai có tính đa dạng phong phú Do đặc tính tự nhiên của đất đai và phân bố cố định từng vùng lãnh thổ nhất định gắn liền với điều kiện hình thành của đất đai quyết định. Mặt khác, tính đa dạng phong phú còn do yêu cầu, đặc điểm và mục đích sử dụng các loại đất khác nhau. Đối với đất đai sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì tính đa dạng phong phú của đất đai do khả năng thích nghi của từng loại cây. Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai Đất trên địa bàn thành phố, ngoài những đặc điểm của đất đai nói chung còn mang đặc điểm của đất đô thị, đồng thời, do phân cấp quản lý của chính quyền thành phố nên quản lý nhà nước về đất đai cấp thành phố có những đặc điểm đặc trưng sau [4]: Một là, quản lý nhà nước về đất đai cấp thành phố trực thuộc Trung ương có phạm vi rộng, nội dung quản lý nhà nước phức tạp.
Xét về diện tích thì thành phố trực thuộc Trung ương nhỏ hơn so với diện tích các tỉnh. Tuy nhiên, ở thành phố mật độ xây dựng, mức độ chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số lượng các thửa đất. cũng như hệ số khai thác, sử dụng đất ở thành phố lớn do vậy số lượng và mức độ phức tạp của các vụ tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai, thu hồi đất, khiếu nại, tố cáo về đất đai cũng lớn đòi hỏi phải có công cụ và biện pháp quản lý nhà nước phù hợp. Hai là, quản lý nhà nước về đất đai cấp thành phố mang tính tuân thủ các quy định pháp lý và hành chính của nhiều cấp.
Sinh viên: Vũ Thị Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp Ba là, quản lý nhà nước về đất đai cấp thành phố thể hiện mối quan hệ trực tiếp, gắn bó giữa chính quyền với các chủ thể sử dụng đất. Vai trò của đất đai trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đất đai là tài sản của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện sản xuất. Trong quá trình lao động con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho con người. Vì vậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm lao động của con người.
Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế và hoạt động của con người. Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất. Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người. Bởi vậy việc sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả và bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia.