mở đầu quan trọng mang ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình quản lý tài chính trong ĐVSNCL. Nó là cơ sở thực hiện và dẫn dắt toàn bộ quá trình quản lý tài chính sau này của đơn vị. Hàng năm, căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ của năm trước và dự kiến của nhà nước quy định ĐVSNCL lập dự toán thu và dự toán chi tài chính theo đúng chế độ quy định. Dự toán chi gồm dự toán chi cho hoạt động thường xuyên và chi hoạt động không thường xuyên của ĐVSNCL.
Việc xây dựng dự toán chi đặc biệt là những khoản chi thường xuyên phải tuân thủ theo đúng chính sách chế độ định mức đã quy định, các khoản chi phải gắn với hoạt động của đơn vị và đòi hỏi tính chính xác và hiệu quả sử dụng. - Thực hiện dự toán: Trong quá trình thực hiện dự toán, ĐVSNCL tuyệt đối chấp hành dự toán thu chi tài chính hàng năm đã được duyệt theo chế độ chính sách của nhà nước và toàn bộ các khoản thu chi trên thực tế phải được căn cứ trên các văn bản quy định của pháp luật và dựa trên cơ sở cân đối thu - chi. Kết thúc năm ngân sách, kinh phí do ngân sách chi hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp chưa sử dụng hết, đơn vị được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng. Còn đối với kinh phí chi cho hoạt động không thường xuyên điều chỉnh các nhóm mục chi, nhiệm vụ chi, kinh phí cuối năm chưa sử dụng hết thực hiện theo luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
12 ■ Quyết toán thu chi tài chính: Đây là khâu cuối cùng trong quy trình quản lý tài chính của tổ chức công. Cuối quý, cuối năm đơn vị phải tiến hành lập báo cáo quyết toán thu chi tài chính về tình hình sử dụng nguồn tài chính để gửi đến cơ quan chức năng theo quy định. Báo cáo quyết toán phản ánh tổng hợp tình hình tài sản, thu chi và kết quả sử dụng nguồn lực tài chính tại đơn vị nhằm cung cấp thông tin tài chính của đơn vị giúp cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị. Cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ tiêu chí phân loại ĐVSNCL theo nguồn thu sự nghiệp, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải Việt Nam là ĐVSNCL do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, do vậy trong luận văn này, tác giả xin chỉ nêu nội dung của cơ chế tự chủ tài chính đối với ĐVSNCL do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.
Nguồn tài chính [6, tr.14] a) Ngân sách nhà nuớc cấp chi thuờng xuyên trên cơ sở số luợng nguời làm việc và định mức phân bổ dự toán đuợc cấp có thẩm quyền phê duyệt; b) Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có); c) Nguồn ngân sách nhà nuớc cấp cho các nhiệm vụ không thuờng xuyên (nếu có), gồm: ■ Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); ■ Kinh phí các chuơng trình mục tiêu quốc gia; các chuơng trình, dự án, đề án khác; ■ Kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; ■ Vốn đầu tu phát triển theo dự án đuợc cấp có thẩm quyền phê duyệt; ■ Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất đuợc cơ quan có thẩm quyền giao; ■ Kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản cho đơn vị theo dự án đuợc cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có); d) Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật; đ) Nguồn khác (nếu có). Các khoản chi [6, tr.15-16] a) Chi thường xuyên: - Chi tiền lương: Đơn vị chi tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với ĐVSNCL. Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, ngân sách nhà nước cấp bổ sung tiền lương tăng thêm, sau khi đã trừ các nguồn bảo đảm tiền lương tăng thêm theo quy định. - Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; b) Chi nhiệm vụ không thường xuyên: Đơn vị chi theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành đối với từng nguồn kinh phí quy định tại điểm c, điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 15 Nghị định 141.
NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ Sự NGHIỆP CÔNG LẬP Trong bài luận văn này tác giả nghiên cứu TCCTKT trên góc độ xử lý thông tin kế toán, do đó những nhiệm vụ chính của TCCTKT trong một ĐVSNCL bao gồm: - Thứ nhất, tổ chức bộ máy kế toán, để tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin, đáp ứng đối tượng sử dụng, trước hết phải xây dựng bộ máy kế toán; - Thứ hai, tổ chức thu nhận thông tin về nội dung các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở đơn vị và kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các nghiệp vụ kinh tế đó thông qua hệ thống chứng từ kế toán và trình tự luân chuyển chứng từ kế toán; - Thứ ba, tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán nhằm thực hiện được những yêu cầu của thông tin kế toán thông qua hệ thống tài khoản kế toán, sổ kế toán trên cơ sở các nguyên tắc và phương pháp xác định. - Thứ tư, tổ chức cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho quản lý kinh tế tài chính vi mô và vĩ mô thông qua hệ thống báo cáo tài chính. - Thứ năm, tổ chức kiểm tra kế toán để đảm bảo chất lượng của TCCTKT. Tổ chức bộ máy kế toán Tổ chức bộ máy kế toán là việc sắp xếp, bố trí, phân công công việc cho những người làm công tác kế toán trong đơn vị sao cho bộ máy kế toán phù hợp với quy mô hoạt động và yêu cầu quản lý của đơn vị.
Đảm bảo chỉ đạo và thực hiện toàn diện, thống nhất và tập trung công tác kế toán, thông tin kinh tế của đơn vị; Gọn nhẹ, hợp lý, chuyên môn hóa, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ của kế toán đơn vị. Do vậy, khi tổ chức bộ máy kế toán, nhà quản lý cần căn cứ tới những vấn đề: Căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu cụ thể của đơn vị để vận dụng hình thức TCCTKT cho phù hợp; Căn cứ vào biên chế bộ máy kế toán hiện có để tổ chức, phân chia ra các bộ phận kế toán trong đơn vị một cách hợp lý. Tổ chức bộ máy kế toán là một trong những khâu quan trọng trong việc tổ chức thu nhận, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin của đơn vị, quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác kế toán, do đó việc lựa chọn các hình thức TCCTKT cũng có liên quan mật thiết đến việc thiết kế bộ máy kế toán ở đơn vị. Lựa chọn hình thức TCCTKT khoa học, hợp lý sẽ làm giảm bớt khối lượng công việc kế toán, tiết kiệm được chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.
Theo đó, tùy đặc điểm hoạt động của mỗi đơn vị để có thể chọn một trong ba hình thức TCCTKT sau: Hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung Theo hình thức này, cả ĐVSNCL chỉ lập một phòng kế toán duy nhất để thực hiện toàn bộ công việc kế toán của đơn vị. Phòng kế toán trung tâm của đơn vị thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu nhận, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo phân tích và tổng hợp của đơn vị. Mô hình kế toán tập trung Hình thức TCCTKT tập trung có những ưu điểm nổi trội như: Thuận tiện trong phân công, chuyên môn hóa công việc đối với cán bộ kế toán và trang bị các phương tiện kỹ thuật tính toán, xử lý và cơ giới hóa công tác kế toán; Tổ chức bộ máy kế toán, tiết kiệm chi phí hạch toán; Việc kiểm tra, chỉ đạo nghiệp vụ đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của kế toán trưởng cũng như các nhà quản lý đối với hoạt động quản lý tài sản và sử dụng kinh phí của đơn vị; Kiểm tra, xử lý, cung cấp kịp thời thông tin kế toán. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung thường được áp dụng thích hợp với các ĐVSNCL độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ, không có sự phân tán quyền lực quản lý.
Đây cũng là những đơn vị sự nghiệp có hoạt động tập trung về mặt không gian và mặt bằng hoạt động, có kỹ thuật xử lý thông tin hiện đại. 16 Hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán Theo hình thức này, đơn vị thành lập phòng kế toán trung tâm, ở đơn vị trực thuộc đã đuợc phân cấp quản lý tài chính, kinh tế nội bộ đều có tổ chức kế toán riêng. Mô hình kế toán phân tán Kế toán trung tâm thực hiện các phần hành công việc kế toán phát sinh ở đơn vị kế toán cấp trên và công tác tài chính trong toàn đơn vị; Huớng dẫn và kiểm tra công tác kế toán ở các đơn vị kế toán cấp cơ sở; Thu nhận, kiểm tra báo cáo kế toán của các đơn vị cơ sở trực thuộc gửi lên và cùng với các tài liệu, báo cáo kế toán về phần hành công việc kế toán ở đơn vị kế toán cấp trên để lập báo cáo kế toán tổng hợp, báo cáo tài chính của toàn đơn vị. 17 Ke toán đơn vị trực thuộc thực hiện toàn bộ công tác kế toán phát sinh ở đơn vị kế toán cấp cơ sở, tổ chức thu nhận, xử lý và hệ thống hóa toàn bộ thông tin kế toán ở đơn vị mình.
Tổ chức lập các báo cáo kế toán, định kỳ gửi về phòng kế toán trung tâm. ưu điểm của hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán là tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát trực tiếp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và phân cấp quản lý kinh tế, tài chính, hạch toán kinh tế nội bộ; Công tác kiểm tra, chỉ đạo hoạt động kinh tế ở các đơn vị, bộ phận trực thuộc đuợc nhanh chóng, kịp thời. Phù hợp với đơn vị có quy mô lớn, địa bàn hoạt động phân tán, các đơn vị trực thuộc hoạt động độc lập.