Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm tư tưởng và tư tưởng về cán bộ, công tác cán bộ * Khái niệm tư tưởng Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm tư tưởng được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp thì “tư tưởng là suy nghĩ hoặc ý nghĩ”; theo nghĩa rộng thì “tư tưởng là những quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội” [71, tr. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đời sống xã hội có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, trong đó lĩnh vực vật chất quyết định lĩnh vực tinh thần, nhưng lĩnh vực tinh thần có tính độc lập tương đối và tác động trở lại lĩnh vực vật chất.
Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội được gọi là ý thức xã hội; ý thức xã hội bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống… của cộng đồng xã hội, nó nảy sinh từ chính tồn tại xã hội và phản ánh sự tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. Quan điểm này của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra nguồn gốc, bản chất, cấu trúc, vai trò của tư tưởng. Đó là: Về nguồn gốc: Tư tưởng chính là bộ phận của ý thức xã hội, được hình thành từ việc con người tiến hành hoạt động sản xuất vật chất để bảo đảm nhu cầu sống của mình, từ đó và sau đó, xã hội mới thường xuyên diễn ra các quá trình sản xuất tinh thần, đúng như C.Mác viết: “Con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã, rồi mới có thể làm ra chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo,… được” [1, tr. Như vậy, ý thức xã hội từ tự phát như tình cảm, mong ước, kinh nghiệm, … dưới tác động trực tiếp của các điều kiện ấy, được lưu truyền, cùng với nhận thức tăng lên, con người dần tìm đến 11 quy luật bên trong của tồn tại xã hội, nghiên cứu chiều sâu bản chất của các mối quan hệ xã hội, để đúc kết thành quan điểm, tư tưởng.
Qua đó, cho thấy tư tưởng là tầm cao của ý thức xã hội, được hình thành một cách tự giác thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, tư tưởng là sự phản ánh điều kiện vật chất xã hội đương thời, nhưng cũng có sự kế thừa; nó xâu chuỗi, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa những yếu tố của tâm lý xã hội cùng với kế thừa từ những quan điểm, tư tưởng ra đời trước đó. Về bản chất: Tư tưởng là biểu hiện khái quát mang tính lý luận của đời sống xã hội hiện thực, trong đó điều kiện sinh hoạt vật chất của con người là yếu tố quyết định. Nó là sản phẩm của sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua lăng kính của nhà tư tưởng, theo C.Mác, tư tưởng luôn gắn với lợi ích và trong xã hội có giai cấp thì tư tưởng bao giờ cũng mang tính giai cấp sâu sắc: “Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị” [30, tr.
Về cấu trúc: Tư tưởng là sự phản ánh khái quát ở trình độ lý luận đối với hiện thực xã hội, mà hiện thực xã hội thì rất phong phú, đa dạng, cho nên, tư tưởng cũng có cấu trúc phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Về vai trò: Tư tưởng có vai trò rất to lớn. Nó được hình thành một cách tự giác thông qua hoạt động thực tiễn của con người, được khái quát hóa mang tầm lý luận, cho nên tư tưởng có thể trở thành vũ khí sắc bén trong đấu tranh chính trị xã hội giữa các giai cấp.Ăng-ghen, thực chất của đấu tranh tư tưởng chính là biểu hiện của cuộc đấu tranh giai cấp: “Tất cả mọi cuộc đấu tranh trong lịch sử, không kể nó diễn ra trên địa hạt chính trị, tôn giáo, triết học hay trên bất kỳ một địa hạt tư tưởng nào khác - thực ra chỉ là biểu hiện ít nhiều, rõ rệt của cuộc đấu tranh của các giai cấp trong xã hội” [2, tr. Khái niệm “tư tưởng” liên quan trực tiếp đến khái niệm “nhà tư tưởng”.
Một người xứng đáng là nhà tư tưởng, theo V.Lênin khi người đó biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về 12 tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát. Như vậy, tư tưởng chính là sự phản ánh khái quát, trừu tượng tồn tại xã hội của ý thức con người, trong đó có biểu hiện về lợi ích nhất định, và khi đã được hệ thống hóa thành hệ tư tưởng, thì biểu hiện của nó sẽ rất đa dạng, dưới nhiều hình thái khác nhau như chính trị, tôn giáo, pháp luật, văn hóa, đạo đức, … Từ những phân tích trên có thể khái quát: Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, khái quát hóa thành lý luận; phản ánh lợi ích, địa vị của một giai cấp nhất định. * Tư tưởng về cán bộ và công tác cán bộ Quy luật tồn tại và phát triển của bất kỳ nhà nước nào trong lịch sử cũng phải tạo dựng cho mình một đội ngũ những con người nhất định trở thành chủ thể của tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước mình. Vì thế tất yếu sẽ hình thành tư tưởng lý luận về những con người đó.Lênin - người lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản đã từng nói: “Trong lịch sử chưa có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [25, tr.
Như trên đã trình bày, tư tưởng là sự phản ánh khái quát và trừu tượng tồn tại xã hội của ý thức con người, thông qua những nghiên cứu, phân tích, tổng hợp của những nhà tư tưởng nhất định. Nếu gắn khái niệm tư tưởng với điều kiện xã hội có phân chia giai cấp, ở đó có nhà nước, các giai cấp và tầng lớp nhân dân đều hướng tới quyền lực nhà nước, thì thấy điều tất yếu là các giai cấp luôn tìm cách hình thành tư tưởng của mình về vấn đề nhà nước, trong đó có tư tưởng về những con người là chủ thể nắm giữ, tổ chức và trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước. Với nhà nước xã hội chủ nghĩa, để bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của mình, nhà nước cũng cần một đội ngũ những con người nhất định là lực lượng tổ chức và thực hiện quyền lực của nhà nước mình. Đến lượt mình, đội ngũ những con người ấy phải được hình 13 thành và phát triển trên một nền tảng cơ sở lý luận nhất định, đó là tư tưởng về cán bộ và CTCB.
Hiện nay, bàn về cán bộ và CTCB đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu, nhưng khái niệm tư tưởng về cán bộ và CTCB ít được các tác giả đề cập, nghiên cứu thấu đáo. Để hiểu vấn đề này, trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm cán bộ và CTCB: Khái niệm cán bộ: Ở Việt Nam, thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và được dùng nhiều trong quân đội, để phân biệt giữa người chiến sĩ với người chỉ huy các cấp trong quân đội; sau đó, được dùng để chỉ tất cả những người thoát ly khỏi nông nghiệp để hoạt động kháng chiến. Trong thực tiễn cách mạng ở nước ta trước đây, từ cán bộ thường được nhân dân gọi với ý nghĩa trân trọng, tự hào và kính phục, nhất là đối với những chiến sĩ cách mạng, lớp người gắn bó với nhân dân, phục vụ sự nghiệp cao cả đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành.
Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [37, tr. Như vậy, cán bộ là những người có trách nhiệm phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng, Nhà nước chứ không phải là người đứng trên hoặc đứng ngoài nhân dân. Họ có trách nhiệm truyền tải đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước đến với nhân dân để nhân dân hiểu cho rõ và tổ chức, vận động nhân dân thi hành. Đồng thời, cán bộ cũng là người có trọng trách phải gần gũi nhân dân, nắm được tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc của quần chúng nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho đúng, phù hợp với quy luật vận động, phát triển của xã hội và đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân.
14 Trong giai đoạn hiện nay, quan niệm về cán bộ được mở rộng hơn, bao gồm: Tất cả những người được bầu cử vào các cơ quan nhà nước, đảng, đoàn thể; những người được bổ nhiệm làm công tác quản lý hoặc được giao một công tác chuyên môn nào đó (cán bộ giảng dạy, cán bộ khoa học kỹ thuật, …); cán bộ khung từ tiểu đội trưởng trở lên trong lực lượng vũ trang. Như vậy, quan niệm về cán bộ cho đến nay có rất nhiều ý kiến khác nhau. Các ý kiến đó, thông thường, được hình thành từ cách nhìn trực tiếp đối với từng loại cán bộ, theo phương pháp liệt kê các tiêu chí hoặc theo cảm tính, nên chưa phản ánh được một cách đầy đủ về khái niệm cán bộ. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Cán bộ là người làm việc trong cơ quan, đoàn thể, đảm nhiệm một công tác lãnh đạo, quản lý, hoặc một công tác nghiệp vụ chuyên môn nhất định” [71, tr.
Cùng bàn về thuật ngữ này, Luật cán bộ, công chức năm 2008 xác định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội” [63, 01]. Tiếp cận từ lĩnh vực quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam chỉ rõ: “Thành phần chủ yếu là đội ngũ sĩ quan quân đội. Theo ngành chuyên môn, có cán bộ: Quân sự, chính trị, hậu cần, quân y, hành chính, kỹ thuật, quân pháp.