Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho nông hộ sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp cho khu công nghiệp 1. Cơ sở lý luận về việc làm cho nông hộ sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp 1. Việc làm Trong tác phẩm nổi tiếng của Ph.Ăngghen đã nêu ra như sau: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” (Trần Thị Minh Ngọc, 2010).
Đây chính là nhân tố có tính chất quyết định trong các giai đoạn lịch sử, thể hiện ở việc sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Ở đây, lao động được đề cập ở yếu tố thứ nhất - lao động để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt. Theo tổ chức Lao động quốc tế (International Labor Organization) đưa ra: Việc làm được hiểu là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật. Việc làm được bắt nguồn từ thỏa thuận giữa người thuê và người được thuê về các công việc nhất định đã tác động đến tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất và để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân.
Việc làm luôn gắn với một ngành nghề nhất định. Điều l3, chương 2, Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trình bày rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Trần Thị Minh Ngọc, 2010). Do đó, việc làm là lao động của con người để thực hiện thỏa thuận giữa người thuê và người được thuê về các công việc nhất định để tạo ra thu nhập hoặc lợi ích của bản thân và gia đình theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, phần lớn những việc làm vi phạp pháp luật (trốn thuế, hàng lậu, hàng quốc cấm…) đều đem lại những khoản thu nhập rất lớn cho chủ thể hoạt động, tuy nhiên các công việc đó không được pháp luật công nhận nên không được thừa nhận là việc làm.
Các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm: - Các công việc thỏa thuận giữa người thuê và người được thuê về các công việc nhất định đem lại thu nhập cho người được thuê theo quy định của pháp luật Theo định nghĩa trên, hoạt động được coi là việc làm cần đồng thời hai điều kiện sau: 6 - Thứ nhất, hoạt động đem lại hữu ích, đồng thời tạo ra thu nhập cho người người được thuê và cho các thành viên trong gia đình họ. Các hoạt động lao động hữu ích khác theo quy định của pháp luật nhưng có thu nhập thì không được gọi là việc làm. - Thứ hai , hoạt động phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Hai tiêu chí có mối quan hệ đan xen với nhau, đây là điều kiện cần và đủ của hoạt động được công nhận là việc làm.
Nếu một hoạt động có tạo ra thu nhập nhưng bất hợp pháp như: trộm cắp, trốn thuế, mại dâm. không đáp ứng các tiêu chí thì không gọi là việc làm. Hơn nữa, hoạt động hợp pháp, có ích nhưng không có thu nhập cũng không được công nhận là việc làm - ví dụ như công việc nội trợ của cho chính gia đình: đi chợ, chuẩn bị bữa ăn,. Nhưng nếu người đi làm đó cũng thực hiện các công việc gia đình nhưng cho gia đình người khác và được trả công thì được công nhận là việc làm.
Mỗi quốc gia và pháp luật của các quốc gia đều có các quy định khác nhau về việc làm. Ví dụ: Mại dâm được coi là việc làm tại Thái Lan, Philippin vì được pháp luật cho phép; nhưng ở Việt Nam hoạt động đó không được công nhận và không được ghi nhận là việc làm. Việc làm có những tính chất đa dạng như sau: - Thứ nhất, tính chất cá nhân hoặc tập thể của việc làm: thể hiện cho ta biết công việc của một cá nhân hay của tập thể. - Thứ hai, địa điểm của việc làm: cho biết công việc diễn ra ở đâu, khu vực nông thôn hay thành phố, miền xuôi hay miền ngược.
- Thứ ba, đặc tính kỹ thuật của việc làm: cho biết chi tiết về kỹ thuật, công nghệ của việc làm. Chính là cơ sở theo ngành nghề của công việc. - Thứ tư, tính chất chuyên nghiệp của việc làm: thể hiện năng lực, phẩm chất của người được thuê thể hiện khi làm việc. - Thứ năm, tính hiệu quả của việc làm: thể hiện hiệu quả kinh tế của việc làm.
- Thứ sáu, tính linh hoạt của việc làm: thể hiện khả năng chuyển đổi nghề nghiệp và khả năng phù hợp với điều kiện công việc mới của người được thuê. Do vậy, việc làm có nhiều đặc tính khác nhau, luôn thể hiện tính chất động. Do vậy, việc chia việc làm thành những đặc tính nghề nghiệp khác, do vậy có sự phân biệt nghề nghiệp của người được thuê khác nhau. 7 - Việc làm chính thức: được hiểu là công việc chính mang lại thu nhập chính cho người được thuê và gia đình họ.
- Việc làm không chính thức được hiểu như sau: là những công việc mà người lao động làm thêm bên ngoài, ngoài công việc chính. Do vậy, đối với người dân, việc làm chính của họ là sản xuất nông nghiệp mùa vụ chính, còn công việc không chính thức là việc làm trong lúc chưa vào vụ. - Việc làm bền vững: theo International Labor Organization, việc làm bền vững là công việc có năng suất và chất lượng cho cả hai giới, với các điều kiện tự do, bình đẳng, đã được tôn trọng. Công việc bền vững gồm có cơ hội làm việc hiệu quả; có thu nhập minh bạch, rõ ràng để đảm bảo an toàn tại chỗ làm việc và bảo vệ xã hội cho người LĐ và như gia đình của họ; có khả năng phát triển cá nhân và khuyến khích hòa nhập cùng XH; cho phép các cá nhân được tự do trình bày các quan điểm của mình, và được tự do đưa ra các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ; và đảm bảo cho mọi người đều được bình đẳng.
Do đó, xét về yếu tố kinh tế, việc làm bền vững là việc làm thể hiện năng suất cao và có tính cạnh tranh. Trên thế giới, bảo đảm cho người lao động có việc làm ổn định vẫn còn là vấn đề rất khó để giải quyết. Thiếu việc làm Thiếu việc làm là người có công việc không ổn định, hay ngắt quãng, thường có những thời gian nhưng không có việc làm. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ghi rõ: Người lao động thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ hay có số giờ làm việc nhỏ hơn so với giờ quy định đối với những người lao động làm những công việc nặng nhọc, độc hại theo các quy định hiện hành của Nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng lại không có việc làm (Nguyễn Dũng Anh, 2014).
Công việc trong sản xuất nông nghiệp thường là trồng trọt và chăn nuôi, do đó đối tượng sinh học phải tuân theo các quy luật sinh học, do vậy hoạt động trong sản xuất nông nghiệp thể hiện tính thời vụ, phụ thuộc vào thiên nhiên như thời tiết, thiên tai. nên nó có tính rủi ro cao. Việc làm trong nông nghiệp cũng mang tính thời vụ. Được thể hiện là việc làm của người lao động cũng phụ thuộc vào mùa vụ Do đó, lao động trong ngành nông nghiệp còn có định nghĩa “Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng trong năm” có thể hiểu là số phần trăm của cả tổng số ngày làm 8 việc thực tế của người lao động nông nghiệp so với tổng ngày có nhu cầu làm việc (bao gồm số ngày thực tế đã làm việc và số nhu cầu mong muốn làm thêm) trong thời gian một năm của người nông dân.
Chính vì vậy, những người lao động trong nông nghiệp mặc dù được phân đất để làm, tuy nhiên họ gần như không làm nông nghiệp mà đi làm thuê như phụ hồ, xây dựng, làm nghề thủ công. và sống chủ yếu là nguồn thu nhập trên, nhưng các công việc này lại không ổn định, hay ngắt quãng thì những người nông dân này vẫn xếp vào dạng lao động chưa đủ việc làm. Có hai loại hình thiếu việc làm: Thiếu việc làm hữu hình, thiếu việc làm vô hình. Thiếu việc làm hữu hình: là công việc ít hơn tiêu chuẩn, phải tìm việc làm phụ thêm.
Thiếu việc làm vô hình: Có việc làm nhưng có năng suất lao động không cao, không thể xác định được hiệu quả, trình độ công việc không tương thích với khả năng và trình độ. Thất nghiệp Là người lao động năm trong độ tuổi lao động theo quy định của Nhà nước và có khả năng lao động nhưng không tìm được việc làm. Bộ lao động - Thương binh và Xã hội đã quy định như sau: Thất nghiệp là những người lao động trong thời gian quan sát tuy không làm việc, không có việc làm nhưng đang tìm kiếm cơ hội việc làm hoặc luôn sẵn sàng làm việc để tạo ra thu nhập bằng tiền hay hiện vật. Bên cạnh đó thất nghiệp còn bao gồm cả những người lao động đã bị buộc thôi việc với một lý do nào đó không lương hoặc không có thời hạn, hoặc những người không tích cực tìm kiếm việc làm vì họ cho rằng họ không thể tìm được việc làm.
Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, điều tiết cung cầu lao động sẽ được điều chỉnh cho phù hợp và vận hành rất hiệu quả. Tuy vậy, thực tế hiếm khi xảy ra sự hoàn hảo trên thị trường. Nếu có, chỉ là ở mang tính thời điểm nhất định mà thôi. Thị trường diễn ra là sự biến động, không gọi là hoàn hảo.
Do đó sẽ xảy ra tình trạng thất nghiệp. Có thể nói rằng, thất nghiệp đang là hiện trạng mang tính toàn cầu, thường xuyên xảy ra ở tất cả các nước. Từ nước đang phát triển tới các nước phát triển cao với mọi trình độ. Trên cơ sở vĩ mô, thể hiện hai loại thất nghiệp: Thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp chuyển tiếp.
Thất nghiệp cơ cấu: Xuất hiện chủ yếu ở các nước công nghiệp đã phát triển, điều đó thể hiện sự biến đổi về cơ cấu kinh tế với các điều kiện thuận lợi để phát triển 9 của khoa học và công nghệ mới. Các cách mạng về khoa học và kỹ thuật kèm theo sự phát triển không ngừng của các loại công nghệ mới đã và đang làm phức tạp lên thị trường lao động.