Khóa Luận Tốt Nghiệp Luật Học: Bảo Đảm Quyền Tự Do Lập Hội Theo Hiến Pháp 2013

Khóa luận tốt nghiệp phân tích quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo đảm hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

64
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

1.1. Khái niệm “hội” và “quyền tự do lập hội”

1.2. Vai trò của quyền tự do lập hội

1.3. Các quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do lập hội

1.4. Giới hạn của quyền tự do lập hội

2. CHƯƠNG II: QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA

3. CHƯƠNG III: QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI TRONG HIẾN PHÁP 2013 VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

3.1. Quan điểm về quyền tự do lập hội ở Việt Nam

3.2. Quyền tự do lập hội là quyền hiến định

3.3. Chủ thể của quyền tự do lập hội

3.4. Tư cách pháp nhân của hội

3.5. Hình thức của hội

3.6. Giới hạn của quyền tự do lập hội

3.7. Nghĩa vụ của Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do lập hội

3.7.1. Nghĩa vụ tôn trọng

3.7.2. Nghĩa vụ bảo vệ

3.7.3. Nghĩa vụ thực thi

3.8. Thực tiễn thực thi quyền tự do lập hội ở Việt Nam

3.8.1. Trong lao động

3.8.2. Trong hình sự, tố tụng hình sự

3.9. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc bảo đảm quyền tự do lập hội ở Việt Nam

5. CHƯƠNG V: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐỂ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI THEO HIẾN PHÁP 2013

5.1. Ban hành Luật về Hội

5.2. Sự cần thiết của Luật về Hội ở Việt Nam

5.3. Luật về Hội nên được quy định như thế nào?

5.4. Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và Luật xử lý vi phạm hành chính cần sửa đổi, bổ sung các chế tài với những hành vi từ chối, ngăn cản và các hành vi khác vi phạm quyền tự do lập hội của người dân

5.5. Bảo đảm sự kế thừa và tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật và quản lý hội phù hợp với thông lệ quốc tế

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khóa luận tốt nghiệp và quyền tự do lập hội

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thìn tập trung vào việc bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013. Đây là một nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực luật học, nhằm làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quyền này. Quyền tự do lập hội được xem là một quyền cơ bản của công dân, góp phần thúc đẩy xã hội dân chủ và bảo vệ các quyền con người khác. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các quy định pháp luật quốc tế mà còn đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

1.1. Khái niệm và vai trò của quyền tự do lập hội

Quyền tự do lập hội được định nghĩa là quyền của mọi người được thành lập và tham gia các tổ chức, hội nhóm một cách tự nguyện. Theo Hiến pháp 2013, đây là một quyền hiến định, được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật. Vai trò của quyền này không chỉ dừng lại ở việc thúc đẩy dân chủ mà còn hỗ trợ bảo vệ các quyền khác như quyền tự do ngôn luận, quyền lao động, và quyền tham gia quản lý nhà nước. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thực hiện quyền này ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi sự hoàn thiện về mặt pháp lý.

1.2. Pháp luật quốc tế và quyền tự do lập hội

Các văn kiện quốc tế như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR)Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) đều ghi nhận quyền tự do lập hội như một quyền cơ bản. Theo đó, mọi người có quyền thành lập và gia nhập các hội một cách hòa bình, không bị ép buộc. Nghiên cứu phân tích các quy định này và so sánh với pháp luật Việt Nam, chỉ ra sự cần thiết phải điều chỉnh để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.

II. Hiến pháp 2013 và pháp luật Việt Nam

Hiến pháp 2013 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền tự do lập hội tại Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù Hiến pháp đã quy định rõ ràng về quyền này, nhưng việc thực thi vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể. Pháp luật Việt Nam hiện hành còn nhiều bất cập, đặc biệt là việc thiếu một Luật về Hội để điều chỉnh các hoạt động của các tổ chức xã hội.

2.1. Quyền tự do lập hội trong Hiến pháp 2013

Hiến pháp 2013 ghi nhận quyền tự do lập hội tại Điều 25, khẳng định đây là một quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thực thi quyền này còn phụ thuộc vào các văn bản pháp luật cụ thể, hiện vẫn chưa được hoàn thiện. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều hội, nhóm hoạt động không hiệu quả hoặc bị hạn chế do thiếu cơ sở pháp lý.

2.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam

Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền tự do lập hội, chỉ ra rằng các quy định hiện hành còn phân tán và thiếu đồng bộ. Việc thiếu một Luật về Hội khiến cho các hoạt động của các tổ chức xã hội gặp nhiều khó khăn trong việc đăng ký và hoạt động. Nghiên cứu cũng đề xuất cần sửa đổi, bổ sung các quy định trong Bộ luật Hình sựBộ luật Tố tụng Hình sự để bảo vệ quyền này một cách hiệu quả hơn.

III. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do lập hội. Trong đó, việc ban hành Luật về Hội được xem là giải pháp quan trọng nhất. Luật này cần quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các hội, cũng như các thủ tục đăng ký và hoạt động. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất sửa đổi các quy định liên quan trong Bộ luật Hình sựBộ luật Tố tụng Hình sự để bảo vệ quyền tự do lập hội một cách toàn diện.

3.1. Ban hành Luật về Hội

Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật về Hội để điều chỉnh các hoạt động của các tổ chức xã hội. Luật này cần quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các hội, cũng như các thủ tục đăng ký và hoạt động. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho các hội hoạt động, đồng thời bảo vệ quyền tự do lập hội của công dân.

3.2. Sửa đổi các quy định pháp luật liên quan

Nghiên cứu đề xuất sửa đổi các quy định trong Bộ luật Hình sựBộ luật Tố tụng Hình sự để bảo vệ quyền tự do lập hội. Cụ thể, cần bổ sung các chế tài xử lý các hành vi vi phạm quyền này, đồng thời đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật. Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền tự do lập hội trong thực tiễn.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 1. Khái niệm “hội” và “quyền tự do lập hội” Hội đã xuất hiện trên thế giới từ thuở xa xưa, dưới nhiều hình thức đa dạng. “Ngay từ thời cổ đại, ở phương Tây, Plato đã mô tả “câu lạc bộ” là những nơi thị dân Hy Lạp lui tới để thưởng thức nghệ thuật, nghe giảng về thiên văn học và khoa học” [1]. Cùng với thời gian, các hình thức hiệp hội trên thế giới ngày càng phát triển, bao gồm các hội không có hoặc có tư cách pháp nhân, với các tên gọi như câu lạc bộ, hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ, các quỹ, công đoàn, tổ chức tôn giáo, chính đảng hoặc công ty.Vậy “hội” là gì? Hiện nay, có nhiều định nghĩa về “hội”.

“Trong tiếng Anh, “hội” thường được thể hiện qua hai thuật ngữ đó là: (i) “Association” – chỉ hình thức liên kết của các cá nhân có cùng mối quan tâm, và (ii) “Society” – chỉ một cộng đồng có tổ chức” [2]. “Cả hai khái niệm này đều có từ gốc Latinh là socius/socielis, hàm ý là sự liên hệ, giao lưu, đồng hành giữa con người với nhau trong đời sống” [3]. Công ước ICCPR và các văn kiện quốc tế quy định về quyền tự do lập hội nhưng không định nghĩa khái niệm hội. Tuy nhiên, khái niệm này được định nghĩa trong một số báo cáo của LHQ.

Như theo Đại diện đặc biệt của Tổng thư ký LHQ về bảo vệ quyền con người, khái niệm “hội” nhắc đến bất kỳ nhóm cá nhân hoặc bất kỳ thực thể pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung [4]. Nguyễn Đăng Dung thì “hội” là sự thỏa thuận, liên kết, tập hợp, quy tụ của nhiều người với nhau thành nhóm để hướng đến các mục đích, lợi ích hay sự quan tâm chung [5]. 9 Rõ ràng, các quan điểm trên đều có định nghĩa tương đồng về “hội”, thừa nhận “hội” là một khái niệm có ngoại diên rộng nên quyền tự do lập hội là một vấn đề phức tạp. Hơn nữa từ góc độ luật nhân quyền, quyền tự do lập hội cũng là quyền có bản chất, nội dung đa dạng.

Lập hội vừa là quyền dân sự, chính trị và cũng vừa là quyền kinh tế xã hội, phụ thuộc rất lớn vào loại hình hội mà cá nhân, tổ chức lựa chọn thành lập, gia nhập. Sự phức tạp và đa dạng nêu trên dẫn đến hệ quả là đối với những hội khác nhau thì việc giải thích, áp dụng và thực thi quyền tự do lập hội cũng có những yêu cầu khác nhau. Theo quan điểm của LHQ: Quyền tự do lập hội (freedom of association) bao gồm quyền thành lập và tham gia hội, quyền hoạt động tự do và được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô lý, quyền tiếp cận nguồn quỹ và các nguồn lực, và quyền tham gia vào việc tiến hành các hoạt động chung của xã hội [6]. Hay nói cách khác, quyền lập hội xuất phát từ những nhu cầu tự nhiên của con người, đó là được quy tụ, được tập trung trong một tổ chức với những mối liên hệ gần gũi, chặt chẽ với những thành viên khác trong cộng đồng.

Đây là quan điểm chung, tiến bộ được các quốc gia và vùng lãnh thổ thừa nhận. Vai trò của quyền tự do lập hội Tự do lập hội là cần thiết trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Quyền tự do lập hội có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy một loạt các quyền con người khác. Thông qua quyền tự do lập hội, các cá nhân liên kết lại cùng nhau bảo vệ quyền sống, quyền an toàn thân thể, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí…Trong lĩnh vực lao động, việc thành lập công đoàn góp giúp bảo vệ các quyền cơ bản của công nhân về tiền lương, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, an toàn lao động…Trong lĩnh vực chính trị, quyền tự do lập hội cũng có vai trò rất thiết yếu đối với việc thực hiện hóa quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia quản lý đất nước.

Đối với các nhóm dễ bị tổn thương, 10 quyền tự do lập hội càng có vai trò quan trọng để chống lại sự phân biệt, kỳ thị cũng như để bảo vệ các quyền khác khi mà tiếng nói của các cá nhân thuộc nhóm này rất dễ bị xã hội và nhà nước bỏ qua. Ngoài ra, thực hiện quyền tự do lập hội, các cá nhân liên kết với nhau, hỗ trợ nhau trong hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, trong sản xuất kinh doanh và các hoạt động thương mại, dịch vụ. Trong báo cáo năm 2013, Báo cáo viên đặc biệt Maina Kiai đã khẳng định rằng, quyền tự do lập hội trao quyền cho tất cả mọi người được thể hiện quan điểm chính trị, tham gia vào các hoạt động văn hóa, kinh tế và xã hội, tham gia vào các nghi lễ tôn giáo hoặc các niềm tin khác, và bầu lãnh đạo để đại diện cho lợi ích của họ và tăng trách nhiệm giải trình. Sự phụ thuộc và liên quan lẫn nhau giữa các quyền làm cho quyền tự do lập hội trở thành một trong những khía cạnh quan trọng để đánh giá sự tôn trọng của nhà nước với những quyền con người khác [7].

Rõ ràng, quyền tự do lập hội không chỉ là một quyền con người cơ bản mà còn là một công cụ hỗ trợ để bảo vệ các quyền khác 1. Các quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do lập hội Điều ước quốc tế về nhân quyền là hình thức cơ bản chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế về quyền con người, điều chỉnh nghĩa vụ các quốc gia thành viên và sự hợp tác giữa chúng nhằm hướng tới sự đảm bảo cao nhất các chuẩn mực quyền con người được thừa nhận chung. Tự do lập hội được xác định là một quyền tự do cơ bản và được nêu trong tất cả các văn kiện nhân quyền quốc tế và khu vực, trong đó đặc biệt quan trọng là Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (UDHR) năm 1948 và Công ước về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966. Đây là những cơ sở pháp lý rõ ràng nhất ràng buộc các quốc gia thành viên phải có trách nhiệm thực thi bảo đảm các quyền được đề cập trong công ước nói chung và đối với quyền tự do lập hội nói riêng.

11 Điều 20 UDHR ghi nhận: “1. Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình; 2. Không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ hiệp hội nào” ICCPR đã cụ thể hóa quy định về quyền tự do lập hội tại Khoản 1 Điều 22: “Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình” Cả UDHR và ICCPR đều dùng từ “mọi người”, điều này có nghĩa là chủ thể của quyền tự do lập hội không bị giới hạn ở công dân, mà còn bao gồm cả người nước ngoài và người không có quốc tịch đang sinh sống hợp pháp ở một quốc gia. Cách hiểu này tương thích với quy định của Điều 2 ICCPR về không phân biệt đối xử và được khẳng định trong các Nghị quyết 15/21, 21/16, 24/5, 20/27, 26/29 của Hội đồng Nhân quyền LHQ.

Đồng thời, để bảo đảm quyền tự do lập hội, tại Điều 30 UDHR quy định: “Không được diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong bản Tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hoặc cá nhân nào được quyền tham gia vào bất cứ hoạt động hoặc thực hiện bất cứ hành vi nào nhằm mục đích phá hoại bất kỳ quyền hoặc tự do nào nêu trong bản Tuyên ngôn này” Điều 5 ICCPR cũng tái khẳng định: “Không được phép giải thích bất kỳ một quy định nào của Công ước này để qua đó có hàm ý tạo cho một quốc gia, một nhóm người hoặc một cá nhân có được một quyền nào đó để tiến hành những công việc hoặc hành động nhằm mục đích hủy bỏ bất kỳ quyền và tự do nào được công nhận trong Công ước hoặc nhằm giới hạn những quyền và tự do đó quá mức độ quy định trong Công ước” Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ hiện chưa có bình luận chung nào về nội dung Điều 22 ICCPR, tuy nhiên, từ nội dung của nó, có thể thấy quyền tự do lập hội bao gồm ba khía cạnh: i) thành lập ra hội mới; ii) gia nhập các 12 hội có sẵn; iii) hoạt động, điều hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy động các nguồn kinh phí cho hoạt động [8]. - Về quyền thành lập và gia nhập hội: Trong các nội dung của quyền tự do lập hội, quyền thành lập và gia nhập các hội là nội dung chủ yếu của quyền tự do lập hội. Mọi người đều có quyền này. Trên cơ sở quy định của công ước ICCPR, quyền tự do lập hội của mọi người được bảo đảm ở các quốc gia theo hai thủ tục: thông báo hoặc cấp phép.

Cùng với quyền thành lập hội, các cá nhân có quyền gia nhập và rút lui các hội; các hội có quyền ngưng hoạt động và tự giải tán. Tuy nhiên, việc các cơ quan nhà nước ngưng hoạt động và giải tán hội phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của luật. - Về quyền tự do hoạt động, điều hành các hội và được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô lý: Quyền tự do lập hội được giải thích là quyền hoạt động tự do của các hội, và điều này xác định các nghĩa vụ của nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền này. Theo cách tiếp cận chung của luật nhân quyền quốc tế, các quốc gia có ba nghĩa vụ gắn với việc bảo đảm quyền con người.

Đối với việc bảo đảm quyền tự do lập hội cũng không ngoại lệ, nhà nước cũng có các nghĩa vụ sau: - Nghĩa vụ tôn trọng: Tôn trọng đời sống nội bộ của hội, hay nói cách khác không được can thiệp tùy tiện vào công việc nội bộ và phải tôn trọng quyền riêng tư của hội như đã quy định tại Điều 17 ICCPR. Cụ thể, các nhà nước không được tùy tiện đặt điều kiện cho những quyết định và hoạt động của hội; đảo ngược kết quả bầu cử thành viên ban lãnh đạo; bắt buộc trong ban lãnh đạo của các hội phải có sự hiện diện của đại diện Chính phủ; yêu cầu các hội nộp báo cáo trước khi xuất bản ấn phẩm hoặc nộp kế 13 hoạch hoạt động để thông qua trước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khoá luận tốt nghiệp phân tích tài chính và một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại duy thịnh" cung cấp cái nhìn chi tiết về các phương pháp phân tích tài chính hiệu quả, đồng thời đề xuất các giải pháp thiết thực để cải thiện tình hình tài chính tại doanh nghiệp. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến quản lý tài chính doanh nghiệp và tìm kiếm cách thức nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về các kỹ thuật tối ưu hóa trong lĩnh vực khác, hãy khám phá bài viết Luận văn tốt nghiệp ứng dụng tối ưu hóa công cụ tìm kiếm SEO cho trang web thư viện trường đại học nội vụ hà nội, nơi bạn sẽ tìm thấy các phương pháp SEO chuyên sâu áp dụng cho trang web thư viện.

Bên cạnh đó, bài viết Tiểu luận ứng dụng một số kỹ thuật kiểm soát chất lượng bằng thống kê SPC để kiểm soát quá trình hoạt động SEO tại công ty Netgroup sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách kiểm soát chất lượng SEO thông qua các kỹ thuật thống kê hiện đại.

Cuối cùng, nếu bạn quan tâm đến việc phát triển du lịch, đừng bỏ qua Khoá luận tốt nghiệp một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tại khu di tích đông yên tử, nơi bạn sẽ tìm thấy các giải pháp sáng tạo để thúc đẩy ngành du lịch tại các khu di tích lịch sử.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá các chủ đề liên quan một cách chi tiết hơn.