Luận văn thạc sĩ: Chính sách đào tạo cán bộ DTTS cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk

Luận văn phân tích thực trạng chính sách đào tạo cán bộ công chức cấp xã người DTTS tại Đắk Lắk, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

81
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đào tạo cán bộ DTTS cấp xã tại Đắk Lắk

Trong hệ thống chính quyền, cấp xã là cấp cơ sở, nơi trực tiếp đưa chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước vào cuộc sống. Tại Đắk Lắk, một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng và đa dạng dân tộc, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức (CB,CC) cấp xã càng trở nên thiết yếu. Đặc biệt, cán bộ DTTS cấp xã là cầu nối không thể thiếu giữa chính quyền và đồng bào các dân tộc. Họ là những người am hiểu sâu sắc về phong tục, tập quán và ngôn ngữ địa phương. Nhờ đó, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách pháp luật, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo đạt hiệu quả cao hơn. Luận văn “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Võ Trí Thông đã đi sâu phân tích tầm quan trọng và thực trạng của công tác này. Việc xây dựng một đội ngũ cán bộ DTTS cấp xã Đắk Lắk vững mạnh về chính trị, giỏi về chuyên môn không chỉ củng cố hệ thống chính trị cơ sở mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của vùng Tây Nguyên. Chính vì vậy, chính sách đào tạo và bồi dưỡng cho lực lượng này luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số.

1.1. Vai trò của cán bộ công chức người dân tộc thiểu số

Cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số (DTTS) đóng một vai trò nòng cốt tại chính quyền cơ sở. Họ là những người sinh ra và lớn lên tại địa phương, có sự gắn bó mật thiết với cộng đồng. Sự am hiểu về văn hóa, ngôn ngữ và tâm lý của đồng bào giúp họ trở thành cầu nối hiệu quả nhất trong việc truyền đạt các chủ trương, chính sách. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ là gốc của mọi công việc”. Đối với vùng có đông đồng bào DTTS như Đắk Lắk, cán bộ người DTTS chính là “cái gốc” để xây dựng lòng tin, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Họ trực tiếp tham gia giải quyết những vấn đề phát sinh tại cơ sở, từ đó góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Sự hiện diện của họ trong bộ máy chính quyền còn là minh chứng cho chính sách bình đẳng dân tộc của Đảng và Nhà nước.

1.2. Khung pháp lý về chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức được xây dựng dựa trên một hệ thống các văn bản pháp lý chặt chẽ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã nhấn mạnh về chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiếp đó, Quyết định số 402/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới”. Tại Đắk Lắk, Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã cụ thể hóa các chủ trương này qua nhiều văn bản chỉ đạo như Kế hoạch số 5835/KH-UBND và Quyết định số 836/QĐ-UBND. Các văn bản này tạo ra hành lang pháp lý vững chắc, định hướng cho công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ DTTS cấp xã, đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong triển khai thực tiễn.

II. Thực trạng đào tạo cán bộ DTTS Đắk Lắk Thách thức lớn

Mặc dù công tác đào tạo cán bộ DTTS cấp xã tại Đắk Lắk đã đạt được những kết quả ban đầu, thực tiễn vẫn còn tồn tại nhiều thách thức và bất cập. Luận văn của tác giả Võ Trí Thông chỉ ra rằng, đội ngũ CB,CC là người DTTS cấp xã vẫn còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng so với yêu cầu nhiệm vụ. Tính đến năm 2017, số lượng CB,CC là người DTTS chỉ chiếm 18,37% (775 người) trong tổng số CB,CC cấp xã toàn tỉnh. Về chất lượng, mặc dù tỷ lệ tốt nghiệp THPT khá cao (91,48%), nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ vẫn còn hạn chế. Cụ thể, số người có trình độ trung cấp và cao đẳng chiếm đa số, trong khi trình độ trên đại học chỉ có 01 người. Đáng chú ý, có tới 86,6% (671 người) chưa qua bất kỳ lớp đào tạo, bồi dưỡng nào về quản lý nhà nước. Đây là một con số đáng báo động, cho thấy sự thiếu hụt kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực thi công vụ. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tại chính quyền cơ sở mà còn cản trở sự phát triển toàn diện của vùng dân tộc thiểu số.

2.1. Phân tích số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ DTTS

Số liệu thống kê từ Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk năm 2017 cho thấy sự mất cân đối trong cơ cấu đội ngũ cán bộ DTTS. Tỷ lệ nữ giới còn khá khiêm tốn, chỉ chiếm 26,7% (207 người). Về độ tuổi, lực lượng cán bộ trẻ dưới 30 tuổi chỉ chiếm 8,5%, trong khi nhóm tuổi từ 46 trở lên chiếm tới 33,5%. Điều này đặt ra thách thức về tính kế thừa và phát triển nguồn nhân lực lâu dài. Công tác quy hoạch, bố trí cán bộ dù đã được quan tâm nhưng vẫn chưa thực sự phát huy hết tiềm năng của đội ngũ hiện có. Sự thiếu hụt về số lượng và cơ cấu chưa hợp lý đòi hỏi phải có những chiến lược cụ thể hơn trong công tác tuyển dụng và tạo nguồn.

2.2. Hạn chế về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị

Chất lượng là yếu tố cốt lõi quyết định năng lực của đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy trình độ chuyên mônlý luận chính trị của cán bộ DTTS cấp xã Đắk Lắk còn nhiều hạn chế. Theo luận văn, số CB,CC có trình độ trung cấp, sơ cấp về chuyên môn nghiệp vụ vẫn chiếm tỷ lệ lớn (41,9%). Về lý luận chính trị, trình độ cao cấp chỉ chiếm 0,96%. Đặc biệt, kỹ năng về quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ còn rất yếu. Nguyên nhân chính là do chương trình đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu thực tiễn, còn nặng về lý thuyết, chưa chú trọng bồi dưỡng kỹ năng thực hành. Đây là rào cản lớn ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực quản lý và điều hành tại cơ sở.

2.3. Bất cập trong nội dung và phương pháp đào tạo hiện nay

Một trong những thách thức lớn nhất là chương trình đào tạo, bồi dưỡng hiện nay vẫn mang tính đại trà, chưa xây dựng được nội dung riêng phù hợp với đặc thù của cán bộ DTTS. Nội dung thường dàn trải, trùng lặp và nặng về lý thuyết (chiếm 80-90%). Phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn là truyền thống một chiều, chưa áp dụng các phương pháp tích cực như thảo luận tình huống, thực hành. Hơn nữa, tâm lý tự ti, mặc cảm của một số học viên người DTTS cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu. Điều này dẫn đến tình trạng sau khi tốt nghiệp, nhiều cán bộ không thể áp dụng kiến thức đã học vào công việc thực tế, gây lãng phí nguồn lực và không đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ DTTS cấp xã

Để khắc phục những hạn chế hiện tại, việc đề ra các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ DTTS cấp xã là yêu cầu cấp bách. Trọng tâm của các giải pháp này là phải đổi mới toàn diện từ nội dung, chương trình đến phương pháp đào tạo. Cần xây dựng các chương trình đào tạo riêng biệt, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, trình độ nhận thức và nhu cầu công việc của CB,CC là người DTTS. Nội dung đào tạo phải được thiết kế theo hướng giảm lý thuyết, tăng thực hành, gắn liền với các tình huống thực tiễn tại địa phương. Thay vì giảng dạy một chiều, cần áp dụng các phương pháp tương tác, khuyến khích học viên chủ động tư duy và giải quyết vấn đề. Đặc biệt, việc bồi dưỡng các kỹ năng mềm như giao tiếp, xử lý tình huống, và kỹ năng quản lý hành chính cần được chú trọng. Việc đào tạo, bồi dưỡng phải gắn chặt với công tác quy hoạch, sử dụng cán bộ để đảm bảo sau khi đào tạo, họ được bố trí đúng vị trí, phát huy được năng lực, tránh lãng phí nguồn nhân lực.

3.1. Đổi mới chương trình nội dung đào tạo theo thực tiễn

Chương trình đào tạo cần được “may đo” cho phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng chức danh cụ thể tại chính quyền cơ sở. Nội dung phải tập trung vào các kiến thức, kỹ năng thiết thực như quản lý đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn văn hóa dân tộc. Cần tích hợp các buổi học thực tế, đi cơ sở để học viên có cơ hội quan sát và thực hành. Ngoài ra, việc bồi dưỡng kiến thức về pháp luật, đặc biệt là các chính sách liên quan đến vùng dân tộc thiểu số, phải được ưu tiên hàng đầu. Việc này giúp nâng cao chất lượng thực thi công vụ và giảm thiểu sai sót trong quá trình quản lý.

3.2. Cải tiến phương pháp giảng dạy và đánh giá hiệu quả

Phương pháp giảng dạy cần chuyển từ “truyền thụ” sang “hướng dẫn”. Giảng viên nên đóng vai trò người điều phối, gợi mở vấn đề để học viên tự tìm tòi, thảo luận. Sử dụng các phương pháp như nghiên cứu tình huống, đóng vai, làm việc nhóm sẽ giúp tăng cường sự tương tác và khả năng ứng dụng kiến thức của học viên. Hệ thống đánh giá cũng cần thay đổi, không chỉ dựa vào các bài thi viết mà cần kết hợp đánh giá qua các dự án thực tế, khả năng giải quyết vấn đề. Hiệu quả đào tạo cần được đo lường bằng sự tiến bộ trong công việc của cán bộ sau khi hoàn thành khóa học, chứ không chỉ bằng điểm số trên giấy tờ.

IV. Bí quyết hoàn thiện chính sách đào tạo cán bộ DTTS Đắk Lắk

Bên cạnh việc đổi mới trực tiếp công tác đào tạo, việc hoàn thiện hệ thống chính sách đào tạo và các chế độ đãi ngộ là yếu tố then chốt để thu hút và giữ chân cán bộ DTTS cấp xã. Một chính sách công hiệu quả phải gắn liền đào tạo với quy hoạch, tuyển dụng và sử dụng. Cần xây dựng một lộ trình phát triển rõ ràng cho mỗi cán bộ, trong đó đào tạo là một bậc thang bắt buộc để thăng tiến. Điều này tạo động lực để cán bộ chủ động học tập, nâng cao trình độ. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ cần được thiết kế một cách thực chất hơn. Ngoài việc hỗ trợ kinh phí học tập, cần có các chính sách khuyến khích về vật chất và tinh thần đối với những cán bộ có thành tích học tập tốt và áp dụng hiệu quả kiến thức vào công việc. Hơn nữa, cần khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong bộ máy nhà nước để tăng cường cho cấp xã, đặc biệt là những cán bộ có kinh nghiệm và chuyên môn cao. Việc này không chỉ giúp nâng cao ngay lập tức chất lượng đội ngũ cơ sở mà còn tạo ra môi trường để cán bộ trẻ học hỏi, phát triển.

4.1. Gắn kết đào tạo bồi dưỡng với công tác quy hoạch cán bộ

Đào tạo phải đi trước một bước và phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch. Các cấp ủy cần xác định rõ nhu cầu cán bộ trong tương lai để xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp, tránh tình trạng đào tạo tràn lan nhưng không sử dụng được. Những cán bộ nằm trong diện quy hoạch cần được ưu tiên cử đi đào tạo các chương trình chuyên sâu, phù hợp với vị trí công tác trong tương lai. Sau đào tạo, phải có cơ chế giám sát, đánh giá và bố trí công việc hợp lý để phát huy tối đa năng lực của họ. Sự gắn kết chặt chẽ này đảm bảo tính hiệu quả và bền vững cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực của địa phương.

4.2. Hoàn thiện chính sách ưu đãi khuyến khích học tập

Để tạo động lực cho cán bộ DTTS cấp xã yên tâm học tập, cần hoàn thiện các chính sách ưu đãi. Theo luận văn, mức hỗ trợ hiện tại còn khiêm tốn. Cần nâng mức hỗ trợ chi phí sinh hoạt, đi lại cho học viên. Ngoài ra, cần có cơ chế khen thưởng rõ ràng cho những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong học tập và công tác. Chính sách cũng nên mở rộng đến việc hỗ trợ con em cán bộ DTTS trong giáo dục, tạo sự an tâm để họ cống hiến lâu dài. Những chính sách này không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, khích lệ tinh thần và củng cố lòng trung thành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

03/10/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐẮK LẮK 1. Quan niệm chung về cán bộ, công chức cấp cơ sở 1. Cán bộ, công chức chính quyền cơ sở Ở nước ta, cấp xã (xã, phường, thị trấn) là chính quyền cấp cơ sở, cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền địa phương. Chính quyền cấp cơ sở có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng không chỉ trong cơ cấu quyền lực nhà nước mà còn là yếu tố chi phối mạnh mẽ đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng dân cư và toàn thể người dân trong địa bàn.

Chính quyền cấp xã theo quan niệm chung còn được xác định là “trụ cột”, “trung tâm” của hệ thống chính trị cơ sở trong tổ chức, triển khai mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và bảo đảm cho chủ trương, chính sách đó đi vào cuộc sống. Chỉ có chính quyền cấp xã, với chứng năng, thẩm quyền được thể chế hóa theo phân cấp, cùng với cơ sở vật chất và đội ngũ CB,CC mới có thể thực hiện được điều đó, mà khó có tổ chức nào ở cơ sở có thể thay thế được. Đội ngũ CB,CC chính quyền cấp xã đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã, trong hoạt động thực thi công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị của cấp xã nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CB,CC chính quyền cấp xã.

CB,CC cấp xã hoạt động theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ CB,CC nhà nước, hoạt động của CB,CC chính quyền cấp xã so với CB,CC ở trung ương, tỉnh, huyện đều hướng theo mục tiêu, nhiệm vụ chung là: Họ đều thực thi công vụ; có những yêu cầu 9 về phẩm chất, năng lực và trình độ nhất định; có trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng, Nhà nước, có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định. Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội quy định: Cán bộ xã, phường, thị trấn (cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Cụ thể, cán bộ cấp xã có các chức vụ: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Công chức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay. Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít.

Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa dân tộc thiểu số với dân tộc lạc hậu, dân tộc chậm tiến, dân tộc kém phát triển, dân tộc chậm phát triển… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia. 10 Trên thực tế, khái niệm dân tộc thiểu số chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm dân tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc.

Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80 triệu người. Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khái niệm dân tộc thiểu số, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi là dân tộc thiểu số. Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là dân tộc thiểu số, nhưng cách gọi dân tộc thiểu số vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung.

Như vậy, khái niệm dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm dân tộc thiểu số cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác. Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là dân tộc đa số ở Việt Nam, nhưng lại được coi là dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là dân tộc đa số ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt 11 Nam).

Rõ ràng, quan niệm về dân tộc thiểu số và dân tộc đa số cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc. Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới. Về khái niệm cán bộ, công chức dân tộc thiểu số hiện nay được dùng tương đối phổ biến ở nước ta. Trên cơ sở các khái niệm: dân tộc thiểu số, cán bộ, công chức cho thấy: Cán bộ, công chức dân tộc thiểu số là tập hợp của ba khái niệm: Cán bộ, công chức và dân tộc thiểu số.

Khái niệm cán bộ, công chức dân tộc thiểu số chỉ những người cán bộ, công chức đang công tác trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị có thành phần xuất thân là các dân tộc thiểu số. Tiêu chí để phân biệt “cán bộ, công chức dân tộc thiểu số” trong đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị là thành phần dân tộc xuất thân của người cán bộ đó thuộc “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số”. Tiêu chí này không có ý nghĩa phân biệt trình độ, năng lực hay địa vị xã hội của người cán bộ, công chức. Khi đã trở thành cán bộ, công chức thì dù có xuất thân từ “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” đều phải đảm nhận những công việc được giao phó và đều phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đối với mỗi cương vị công tác của mình.

Từ những phân tích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về cán bộ, công chức dân tộc thiểu số, như sau: “Cán bộ, công chức dân tộc thiểu số” là những cán bộ, công chức được quy định tại Luật cán bộ, công chức, đang công tác, làm việc trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số Việt Nam. Cán bộ, công chức cấp cơ sở nói chung và cán bộ, công chức cấp cơ sở là người dân tộc thiểu số nói riêng là lực lượng rất quan trong trong việc triển 12 khai thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn cấp cơ sở, đặc biệt là những địa bàn có đông người dân tộc thiểu số sinh sống, làm việc. Pháp luật quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp cơ sở nói riêng. Do đó, đòi hỏi họ phải có năng lực thích ứng để thực hiện nhiệm vụ được giao (quản lý nhà nước; cung cấp dịch vụ công,v.

Các quy định của Đảng, nhà nước và địa phương về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số 1. Chủ trương, chính sách và các quy định của Đảng, nhà nước và các bộ, ngành liên quan Vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách cán bộ, trải qua các thời kỳ cách mạng Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã chỉ rõ: …Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân cho đội ngũ cán bộ. Gắn việc quy hoạch với công tác đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ trong đổi mới hệ thống chính trị,.

Kết luận Hội nghị TW 9 (khóa X) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020, cũng chỉ rõ: “…nâng cao chất lượng về mọi mặt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ