Đặt vấn đề Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, trong những năm qua nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có sự phát triển mạnh mẽ đạt được những kết quả quan trọng trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hoá, đời sống cộng đồng góp phần nâng cao vai trò, vị trí và sức cạnh tranh của nền kinh tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn cả nước, tạo tiền đề để tăng tốc độ phát triển kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Hạ tầng nông thôn có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế xã hội nông thôn trình độ kinh tế xã hội nông thôn ở mức độ nào thì cơ sở hạ tầng cũng tương ứng với mức độ nào đó. Nơi nào có cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng tốt thì điều kiện kinh tế xã hội cũng phát triển đời sống tinh thần của người dân được nâng cao có điều kiện đầu tư cho sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Trong đó việc xây dựng cơ sở hạ tầng là một hướng đi đúng và mang lại nhiều lợi ích cho đời sống xã hội của người dân.
Đồng thời cũng thúc đẩy các hoạt động sản xuất hàng hóa, giúp người dân tiếp cận với xã hội và nền kinh tế thị trường bên ngoài. Vì vậy cơ sở hạ tầng nông thôn được coi là một điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi các hoạt động kinh tế- xã hội của xã Tân Long. Xuất phát từ những lý do trên, tôi nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại xã Tân Long - Đồng Hỷ”. Với mong muốn có cái nhìn khách quan về những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua của địa phương.
Từ đó đề ra phương án nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp với xu thế hội nhập, góp phần cho sự phát triển của địa phương. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá hiện trạng, đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội cho xã Tân Long theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Tìm hiểu tình hình xây dựng nông thôn mới của địa phương trong thời gian qua. - Đánh giá hiện trạng và tiến trình xây dựng cơ sở hạ tầng theo tiêu chuẩn xây dựng nông thôn mới của xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. - Rút ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội theo Bộ tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn. - Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội cho xã Tân Long trong thời gian tới.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Việc thực hiện làm đề tài là cơ hội cho em học tập, rèn luyện, đi sâu vào thực tế, được áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, tích lũy những kiến thức thực tế khi tiếp xúc thực tế làm việc với nguời dân. - Tích lũy thêm những kiến thức mới cho bản thân nhằm phục vụ cho công tác sau này. Ngoài ra đề tài còn là cơ hội để em được nghiên cứu tìm hiểu về tình hình kinh tế xã hội phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn tại địa phương. Từ đó có được cơ sở để so sánh sự phát triển của địa phương với các xã khác trong khu vực theo tiêu chuẩn nông thôn mới h 3 - Góp phần hoàn thiện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương trong giai đoạn “công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn” hiện nay.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề tài góp phần vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng và đưa ra các giải pháp để xây dựng xã Tân Long đạt tiêu chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho xã có những định hướng phát triển phù hợp với điều kiện của địa phương. - Giúp địa phương phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế yếu kém nhằm thực hiện tốt hơn trương trình xây dựng nông thôn mới để từng bước cải thiện đời sống nhân dân. h 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý luận về nông thôn mới và xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Cơ sở lý luận về nông thôn mới 2. Khái niệm về nông thôn Ở mỗi quốc gia có những sự phân biệt khác nhau giữa nông thôn và thành thị. Đến nay chưa có một khái niệm nào về nông thôn chuẩn xác và được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn, khi nói về nông thôn người ta hay so sánh nông thôn với thành thị [2].
Staroverov một nhà xã hội học người Nga đã đưa ra định nghĩa khá bao quát về nông thôn, ông cho rằng: “ Nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu xã hội học về phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã đình hình từ lâu trong lịch sử. Đặc trưng cảu phân hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo với điều kiện địa lý tự nhiên quá trội, với kiểu loại tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian. Tuy nhiên nông thôn có những đặc trưng riêng biệt của nó. Cũng theo nhận định của nhà xã hội học này thì nông thôn phân biệt với đô thị bởi trình độ phát triển kinh tế thấp kém hơn, bởi thua kém hơn về mức độ xã hội, sinh hoạt.
Điều này thể hiện rõ trong cơ cấu xã hội, lối sống của người dân nông thôn. Như vậy theo phân tích của nhà xã hội học thì có thể đưa ra khái niệm tổng quát về nông thôn như sau: Nông thôn là vùng khác với đô thị ở chỗ nó có cộng đồng chủ yếu là nông dân làm nghề chính là nông nghiệp, có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng thấp hơn; ở mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường hàng hóa thấp hơn [2]. Khái niệm cơ sở hạ tầng a. Khái niệm Cơ sở hạ tầng có thể hiểu là những kiến trúc làm nền tảng cho các đối tượng, các yếu tố hình thành và phát triển xã hội.
Đó là những cấu trúc về vật chất, kỹ thuật, hệ thống công trình xây dựng, thiết bị… làm nền tảng cho các hoạt động diễn ra trong xã hội. Từ những quan điểm đó, có thể đi đến định nghĩa khái quát về cơ sở hạ tầng như sau: “Cơ sở hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành kinh tế dịch vụ bao gồm việc xây dựng đường xá, kênh mương tưới tiêu, hải cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng, hệ thống cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông vận tải, bưu điện, cấp thoát nước, cơ sở giáo dục, khoa học, y tế, bảo vệ sức khoẻ….” Cơ sở hạ tầng nông thôn cũng mang kết cấu chung của kết cấu hạ tầng là nền tảng cho phát triển kinh tế xã hội nông thôn. Cơ sở hạ tầng ở nông thôn bao gồm: hệ thống thủy lợi, giao thông, điện, thông tin liên lạc, cấp thoát nước, cơ sở bảo quản, khu chế biến nông sản… ngoài ra còn cơ cấu hạ tầng cơ sở xã hội như trường học, bệnh xã, các công trình phúc lợi xã hội khác [7]. Đặc trưng cơ bản của cơ sở hạ tầng Tính hệ thống: Cơ sở hạ tầng là một hệ thống bao trùm lên mọi hoạt động sản xuất, kinh tế - xã hội trên toàn lãnh thổ quốc gia.
Dưới đó lại có những phân hệ với mức độ và phạm vi ảnh hưởng thấp hơn, nhưng tất cả đều liên quan gắn bó với nhau, mà sự trục trặc ở khâu này sẽ liên quan, ảnh hưởng đến khâu khác. Bản thân các bộ phận của cơ sở hạ tầng cũng có tính chất hệ thống như hệ thống giao thông, hệ thống điện, điện thoại. Tính kiến trúc: Các bộ phận cấu thành hệ thống cơ sở hạ tầng phải có cấu trúc phù hợp với những tỷ lệ cân đối, kết hợp với nhau thành một tổng thể hài hoà, đồng bộ. Sự khập khiễng trong cơ sở hạ tầng có thể làm tê liệt cả hệ thống, hay từng phân hệ của cấu trúc, hệ thống công trình mất tác dụng, không phát huy được hiệu quả.
h 6 Tính tiên phong định hướng: Cơ sở hạ tầng của một nước, một vùng luôn phải hình thành và phát triển đi trước một bước so với các hoạt động kinh tế - xã hội khác. Sự phát triển cơ sở hạ tầng về quy mô, chất lượng, trình độ tiến bộ kỹ thuật là những tín hiệu cho người ta thấy định hướng phát triển kinh tế – xã hội của một nước hay một vùng đó. Tính tiên phong của hệ thống cơ sở hạ tầng còn thể hiện ở chỗ nó luôn đón đầu sự phát triển kinh tế - xã hội, mở đường cho các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển thuận lợi. Tính tương hỗ: Các bộ phận trong cơ sở hạ tầng có tác động qua lại với nhau.
Sự phát triển của bộ phận này có thể tạo thuận lợi cho bộ phận kia và ngược lại, các bộ phận có thể tương tác, lợi dụng lẫn nhau. Tính công cộng: Các ngành sản xuất và dịch vụ thuộc cơ sở hạ tầng tạo ra những sản phẩm là những hàng hoá công cộng, đường xá, cầu cống, công viên, mạng lưới điện, nước, thông tin… lưu ý rằng trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công cộng này không thể chỉ lấy doanh lợi của xí nghiệp làm đầu, mà còn phải coi trọng tính phục vụ và ý nghĩa phúc lợi cho toàn xã hội. Tính vùng (địa lý): các ngành sản xuất và dịch vụ cấu trúc hạ tầng cũng như nhiều ngành sản xuất và dịch vụ khác thường mang tính địa lý (tính vùng), chịu ảnh hưởng rõ rệt của các yếu tố tự nhiên (tài nguyên, môi trường, địa hình, đất đai…) và các yếu tố kinh tế xã hội của từng vùng. Vì thế kết cấu hạ tầng của các vùng có vị trí địa lý khác nhau sẽ khác nhau.