Đặt vấn đề Vườn - ao - chuồng (VAC) là một hệ sinh thái nông nghiệp với quy mô nhỏ. VAC là từ viết tắt tiếng Việt, gồm: Vườn, Ao, Chuồng. V chỉ các hoạt động trồng trọt, A chỉ các hoạt động nuôi trồng thủy sản, C chỉ các hoạt động chăn nuôi. Từ buổi đầu chinh phục và phát triển nền nông nghiệp lúa nước, các thế hệ nông dân Việt Nam đã bắt đầu từ hoạt động VAC.
Để tạo lập được cuộc sống cho hộ gia đình và tiến hành sản xuất nông nghiệp, nông dân phải đào đất vượt thổ đắp nền nhà, hình thành một cơ cấu nông nghiệp quanh nhà: Nếp nhà, mảnh vườn, ao cá, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm. Mô hình VAC bắt đầu xuất hiện rất sớm trong đời sống kinh tế, xã hội nông thôn Việt Nam. Trải qua thời gian và mở rộng theo không gian trên các vùng sinh thái khác nhau, mô hình VAC ngày càng phát triển đa dạng, có vị trí ngày càng quan trọng trong kinh tế hộ gia đình nông dân và nông thôn Việt Nam Năm 1981 Ban Bí thư Trung Ương Đảng đã ra Chỉ thị 100, năm 1988 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 và sau đó là Nghị quyết Trung Ương 5 (khóa VII) đã mở ra cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam đổi mới và phát triển. Quan điểm “chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn” được Đảng ta khẳng định, được Nhà nước thể chế hóa bằng hệ thống các luật, chính sách và Nghị định như: giao quyền sử dụng ruộng đất dài hạn, cho vay vốn đến hộ sản xuất, khuyến nông.
Do vậy nền nông nghiệp nước nhà có bước phát triển rất ngoạn mục. Mô hình VAC cũng có bước phát triển mới, tạo ra nguồn thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo, tích lũy làm giàu, phát triển nông nghiệp toàn diện. Hai bộ phận hợp thành kinh tế hộ nông dân “một bên là ruộng, một bên là vườn (VAC)” gắn bó với nhau, tác động đến nhau cùng phát triển. Phong trào làm n 2 mô hình VAC đã phát triển theo sự đổi mới của nền kinh tế, nhất là từ khi Đảng và Nhà nước có chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phong trào đã có bước phát triển mới, từ mô hình VAC dinh dưỡng lên mô hình VAC hàng hoá, VAC trang trại.
Kinh nghiệm làm VAC đã được áp dụng ở các địa phương trong cả nước với các mô hình khác nhau: VAC đồng bằng, VAC vùng ven biển, VAC vùng trung du miền núi, VAC vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nơi mà hệ sinh thái VAC có đủ cả 3 hợp phần hay chỉ có hợp phần VA, VC, AC. Ngay cả trong những trường hợp này, vẫn có mối quan hệ tương hỗ thông qua hoạt động của con người và môi trường. Mô hình VAC đã trở thành một hệ sản xuất bền vững, ổn định, đa dạng, phong phú.
Dưới tác động của hệ thống chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, kinh tế VAC đang là bộ phận có sức sống hợp quy luật, hợp lòng dân, ngày càng phát triển trên tất cả các vùng sinh thái khác nhau của nước ta. VAC thực sự đang là “Điểm tựa” để phát triển nông-lâm-ngư nghiệp toàn diện, tạo thế và lực để thâm canh đồng ruộng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế đồi rừng, mặt nước, mở mang ngành nghề và các hoạt động dịch vụ trong nông thôn. Mô hình VAC không chỉ phát triển ở vùng đồng bằng đất chật người đông, mà cả ở miền núi đồng bào dân tộc cũng tiếp thu rất nhanh các tiến bộ kỹ thuật và phát triển mô hình VAC rất đa dạng. Mô hình VAC có ý nghĩa về kinh tế, xã hội và nhân văn, VAC không chỉ là hoạt động thực tiễn của hộ nông dân, mà còn là những nội dung được các nhà khoa học, các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu tổng kết.
Các đoàn thể xã hội như Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, đều vận động hội viên làm VAC để xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng ở nông thôn. n 3 Hiện nay ở Việt Nam tiềm năng phát triển mô hình VAC còn rất lớn. Với gần 13 triệu hộ nông dân, bình quân mỗi hộ có trên dưới 270 m2 đất vườn mà một nửa còn là vườn tạp, chưa cải tạo và thâm canh. Hàng chục vạn ha ruộng đất trũng, chua, xấu làm lương thực kém hiệu quả có thể chuyển làm VAC.
Hàng chục triệu ha đất trống, đồi núi trọc chưa được khai thác, diện tích mặt nước chưa sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả còn nhiều. Khả năng chăn nuôi gia súc, gia cầm trong hộ nông dân còn rất lớn. Lực lượng lao động ở nông thôn chưa có việc làm tới 5 - 6 triệu người (3), thời gian nông nhàn trong nông thôn còn rất nhiều. Thực tế, mô hình VAC đã được áp dụng ở các địa phương với nhiều hình thức khác nhau: VAC vùng đồng bằng, VAC vùng trung du miền núi, VAC ven biển, và tính chất mô hình VAC cũng đã thay đổi từ tự cung tự cấp thực phẩm nay chuyển sang sản xuất hàng hóa để tăng thu nhập, tái đầu tư mở rộng sản xuất và tích lũy làm giàu.
Cho nên, nội dụng sản xuất đa dạng hơn, đòi hỏi áp dụng nhiều kỹ thuật tiến bộ hơn. Hiện nay Việt Nam đã là thành viên Hiệp định đối tác thương mại tự do châu Á Thái Bình Dương (TTP), các mặt hàng nông sản cạnh tranh với các mặt hàng của các nươc thành viên với giá rẻ đặc biệt mặt hàng của Thái Lan, vậy đòi hỏi người nông dân phải có những kiến thức nhất định về kinh tế thị trường, về quản lý và tổ chức sản xuất hộ, phải thích ứng với điều kiện mới, phát huy lợi thế, khai thác tốt nguồn lực đất đai, lao động để sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa với chất lượng cao, có đủ sức cạnh tranh với nông sản hàng hóa của các nước trong khu vực và của thị trường thế giới, nhằm tăng thu nhập, nâng cao mức sống, góp phần xây dựng làng xã và đất nước giàu mạnh (17). Với ý nghĩa đó, em thấy cần phải nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình VAC trên địa bàn xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” n 4 1. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu tìm ra giải pháp phát triển mô hình VAC theo hướng bền vững. Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tầm quan trọng của mô hình VAC trong việc phát triển kinh tế trong nông thôn mới. - Đánh giá thực trạng phát triển của mô hình VAC trên địa bàn nghiên cứu. - Xác định và đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình V.C trên địa bàn xã Phú Lộc, Huyện Phù Ninh, tỉnh Phú thọ.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các mô hình V.C trên địa bàn xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú thọ. - Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần phát triển bền vững các mô hình VAC trên địa bàn xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Quá trình thực hiện này sẽ nâng cao nhận thức, sự hiểu biết và năng lực cũng như rèn luyện kĩ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân.
Đây là cơ hội cho sinh viên thực hành khảo sát thực tế, áp dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn và cũng là cơ hội gặp gỡ, học tập trao đổi kiến thức với những người có kinh nghiệm và người dân địa phương. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở để hiểu rõ hơn về mô hình VAC trong việc làm kinh tế mới trong nông thôn mới nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương trong quá trình áp dụng mô hình VAC trong việc phát triển kinh tế trong thời gian tới. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Khái niệm về hiệu quả Hiệu quả là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan đến các quy luật và phạm trù kinh tế khác. Khi bàn về khái niệm hiệu quả các nhà kinh tế có những quan điểm khác nhau. Có thể tóm tắt thành ba quan điểm sau: - Quan điểm thứ nhất cho rằng: Hiệu quả được tính bằng hiệu số giữa kết quả sản xuất đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, tức là: Hiệu quả = kết quả đầu ra – chi phí đầu vào - Quan điểm thứ hai cho rằng: Hiệu quả được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và các chi phí bỏ ra, tức là: Hiệu quả = - Quan điểm thứ ba cho rằng: Hiệu quả là tỷ số giữa phần tăng thêm của kết quả sản xuất và phần tăng thêm của chi phí, tức là: Hiệu quả = Từ những quan điểm trên cho thấy, nếu đánh giá hiệu quả theo quan điểm thứ nhất thì chưa xác định được năng suất lao động xã hội và khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của các cơ sở sản xuất có lợi nhuận như nhau. Mặt khác theo quan điểm kinh doanh trong nền kinh tế thị trường thì lợi nhuận chỉ là chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận không phải là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất. Nếu xem xét hiệu quả theo quan điểm thứ hai thì chưa phân tích được sự tác động, sự ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực tự nhiên. Hai cơ sở sản xuất đạt được tỉ số kết quả/chí phí như nhau, nhưng ở không gian và thời gian n 6 khác nhau thì tác động của nguồn lực tự nhiên là khác nhau và như vậy hiệu quả là khác nhau. Nếu xét theo quan điểm thứ ba cũng chưa đầy đủ.
Bởi trong thực tế kết quả sản xuất đạt được luôn là hệ quả của cả những chi phí có sẵn từ trước cộng với phần chi phí bổ sung. Ở các mức chi phí có sẵn khác nhau thì hiệu quả của chi phí bổ sung sẽ khác nhau. Phân loại hiệu quả Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình khai thác tài nguyên đều có mục đích chủ yếu là kinh tế. Tuy nhiên, kết quả hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế, mà đồng thời tạo ra nhiều kết quả có liên quan đến đời sống kinh tế xã hội của con người.