Đặt vấn đề Vấn đề môi trƣờng, dân số và đặc biệt là nƣớc đang là một trong những vấn đề thu hút đƣợc sự quan tâm của toàn thế giới. Hiện nay, lƣợng nƣớc sạch không đủ cung cấp cho con ngƣời, và các ảnh hƣởng xấu của nó đến cuộc sống ngày càng trở nên báo động. Theo kế t quả nghiên cƣ́u của hai chuyên gia Mesfin Mekonnen và Arjen Hoekstra thuô ̣c Đa ̣i ho ̣c Twente (Hà Lan), con số 2/3 (tƣơng đƣơng 4 tỷ ngƣời) nhân loa ̣i thiế u nƣớc sinh hoa ̣t cao hơn nhiề u so với dƣ̣ báo (Nguyễn Tuyế n, 2016) [9]. Tài nguyên nƣớc là các nguồn nƣớc mà con ngƣời có thể sử dụng, là vật phẩm quý giá nhất mà tạo hóa đã ban cho hành tinh của nƣớc ta và chính nó là khởi nguồn của sự sống: mọi sinh vật không có nƣớc không thể tồn tại và con ngƣời cũng không phải là ngoại lệ, có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, đặc biệt là trong sự phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, không riêng gì con ngƣời, bất cứ một ngành hay lĩnh vực nào cũng cần đến nƣớc để làm nguyên liệu sản xuất hay phụ trợ.
Tình trạng thiếu nƣớc sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày là nguyên nhân chủ yếu gây ra những hậu quả nặng nề về sức khỏe đối với đời sống con ngƣời. Nƣớc sinh hoạt là một nhu cầu cần thiết trong cuộc sống con ngƣời từ rất lâu trong đấu tranh sinh tồn và phát triển, ngƣời dân nông thôn Việt Nam nói chung cũng nhƣ ngƣời dân Lạng Sơn nói riêng đã khai thác các nguồn nƣớc và hình thức cung cấp nƣớc thô sơ để phục vụ ăn uống. Tầm quan trọng của nƣớc sinh hoạt đối với sức khỏe con ngƣời là rất cần thiết nên việc khai thác cũng nhƣ sử dụng các nguồn nƣớc phục vụ ăn uống sinh hoạt và sản xuất còn hạn chế. n 2 Nƣớc sạch là một nhu cầu hết sức cấp thiết trong đời sống hàng ngày của mọi ngƣời.
Hiện nay, nó đang trở thành một đòi hỏi hết sức cấp thiết trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt của ngƣời dân. Việt Nam là một nƣớc tăng dân số nhanh là quốc gia có số dân đông thứ 14 trên thế giới chủ yếu tỉ lệ tăng dân số tập trung tại các thành phố lớn. Nhiều xã trong huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đặc biệt là xã Tân Tri nƣớc sạch chƣa tới hơn 40% ngƣời dân phải sử dụng nƣớc giếng cho dù chất lƣợng nguồn nƣớc không đảm bảo. Nhiều nơi, nƣớc giếng còn nhiễm đá vôi, cùng với tốc độ tăng dân số là lƣợng chất thải sinh hoạt cũng tăng và các hoạt động khai thác khoáng sản, hoạt động nông nghiệp dẫn đến ô nhiễm các sông, suối làm cho tình hình thiếu nƣớc sạch đã thiếu càng thêm thiếu.
Xuất phát từ thực tế trên, đƣợc sự đồng ý của Ban Giám hiệu trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Môi Trƣờng và đƣ ợc sự hƣớng dẫn của giảng viên Th.S Hà Đình Nghiêm, em tiến hành đề tài: “Đánh giá hiện trạng nước sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp cung cấp nước sạch tại xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát - Đánh giá đƣợc hiện trạng môi trƣơng nƣớc sinh hoạt tại xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.2 Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu chất lƣợng môi trƣờng nƣớc nhằm mục đích cung cấp sử dụng từ đó có những biện pháp quản lý cũng nhƣ các giải pháp nâng cao chất lƣợng đối với nguồn nƣớc ở địa phƣơng. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học -Là cơ hội giúp sinh viên biết cách nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học của nhà trƣờng vào thực tế. - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trƣờng. - Vận dụng và phát huy đƣợc các kiến thức đã học và nghiên cứu nhằm bổ sung cho học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá đƣợc chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu.
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch. - Xây dựng chính sách bảo vệ môi trƣờng và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của thành phố và tỉnh. - Đế xuất những biện pháp khả thi nhằm nâng cao chất lƣợng nƣớc sinh hoạt, phục vụ cho ngƣời dân trên địa bàn xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Tầm quan trọng của nước Nƣớc là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là yếu tố không thể thiếu cho hoạt động sống của trái đất. Nƣớc điều hòa các yếu tố khí hậu và đáp ứng nhu cầu đa dạng của con ngƣời trong sinh hoạt hàng ngày tƣới tiêu trong nông nghiệp sản xuất, công nghiêp, giao thông đƣờng thủy và tạo ra nhiều cảnh quan đẹp. Nguồn tài nguyên nƣớc là vô cùng quý giá nhƣng không phải là nguồn tài nguyên vô tận.
Mặc dù lƣợng nƣớc chiếm 97% trên bề mặt trái đất nhƣng lƣợng nƣớc có thể dùng cho sinh hoạt và sẳn xuất là rất ít, chỉ chiếm 3% tổng trữ lƣơng. Hiện nay nguồn nƣớc đang bị ô nhiềm trầm trọng, gây ảnh hƣởng cho ngƣời sử dụng. Do vậy việc điều tra đánh giá về các hệ thông cung cấp nƣơc sinh hoạt hiện có để xác định chất lƣợng nƣớc và những thuận lợi khó khăn của từng hệ thống cung cấp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng, quản lý cũng nhƣ chất lƣợng cuộc sông ngƣời dân đƣợc đảm bảo hơn. Nước và một số khái niệm liên quan - Nƣớc là một tập hợp chất hóa học của Oxy và Hidro, có công thức hóa học là H2O.
Với các tính chất lý học đặc biệt (tính lƣỡng cực, liên kết hidro và tính bất thƣờng của khối lƣợng riêng) nƣớc là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và đời sống. - Tài nguyên nƣớc bao gồm nguồn nƣớc mặt, nƣớc dƣới đất, nƣớc mƣa và nƣớc biển thuộc lãnh thổ của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. n 5 - Nƣớc sinh hoạt là nƣớc sạch hoặc nƣớc dùng cho ăn uống, vệ sinh của con ngƣời. Nƣớc sạch là nƣớc có chất lƣợng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nƣớc sạch, có thể là đƣợc hiểu là nƣớc trong không màu, không mùi, không vị (Đào Đoàn Mạnh, 2012) [6].
- Nƣớc đƣợc cung cấp tại khu vực nông thôn đã qua xử lý, sau hệ thống phân phối, dùng trong sinh hoạt gọi là nƣớc sinh hoạt nông thôn. Một số thông số đánh giá chất lượng các nguồn nước cung cấp cho mục đích sinh hoạt thường dùng 2. Các chỉ tiêu về lý học - Độ pH của nước: Định nghĩa về mặt toán học: pH = -log[H+]. pH là thông số đánh giá chất lƣợng nguồn nƣớc, nó quyết định đến tính axit, bazơ cũng nhƣ khả năng hòa tan của các chất tan trong nƣớc, sự thay đổi của độ pH dẫn tới sự thay đổi thành phần hóa học của nƣớc (sự kết tủa, sự hòa tan, cân bằng cacbonat,.), các quá trình sinh học trong nƣớc.
pH dƣới 7 là có tính axit và độ pH trên 7 có tính bazơ. pH đƣợc xác định bằng máy đo pH hoặc bằng phƣơng pháp chuẩn độ. - Nhiệt độ (0C): Nhiệt độ của nƣớc có ảnh hƣởng đến độ pH, đến các quá trình hóa học và sinh học xảy ra trong nƣớc. Nhiệt độ phụ thuộc rất nhiều vào môi trƣờng xung quanh, vào thời gian trong ngày, vào mùa trong năm….
Nhiệt độ cần đƣợc xác định tại chỗ (tại nơi lấy mẫu). - Độ màu của nước: Nƣớc nguyên chất không màu. Màu sắc gây nên bởi các tạp chất trong nƣớc (thƣờng là do chất hữu cơ, chất mùn hữu cơ, acid humic, một số ion nhƣ sắt, một số loài thủy sinh vật). Độ màu thƣờng đƣợc xác định bằng phƣơng pháp so màu với các dung dịch chuẩn là Clorophantinat Coban.
Đơn vị Pt – Co. n 6 - Độ đục: Độ đục gây nên bởi các hạt rắn lơ lửng trong nƣớc. Các chất lơ lửng trong nƣớc có thể có nguồn gốc vô cơ, hữu cơ hoặc các vi sinh vật, thủy vật có kích thƣớc thông thƣờng từ 0,1 – 10µm. Độ đục làm giảm khả năng truyền sang của nƣớc, ảnh hƣởng tới quá trình quang hợp.
Độ đục đƣợc đo bằng máy đo độ đục (đục kế - turbidimeter). Đơn vị đo độ đục theo các máy do Mỹ sản xuất là NTU (Nephelometric Turbidity Unit). - Tổng hàm lượng chất rắn (TS): Các chất rắn trong nƣớc có thể là những chất tan hoặc không tan, bao gồm cả những chất vô cơ lẫn các chất hữu cơ. Tổng hàm lƣợng các chất rắn (TS) là lƣợng khô tính bằng mg của phần còn lại sau khi làm bay hơi 1 lít mẫu nƣớc trên nồi cách thủy sấy khô ở 1050C cho tới khi khối lƣợng không đổi (đơn vị tính bằng mg/l).
- Lượng chất rắn lơ lửng (SS): Các chất rắn lơ lửng (các chất huyền phù) là những chất rắn không tan trong nƣớc. Hàm lƣợng các chất lơ lửng (SS) là lƣợng khô của phần chất rắn còn lại trên giấy lọc sợi thủy tinh khi lọc 1 lít nƣớc mẫu qua phễu lọc rồi sấy khô ở 1050C cho tới khi khối lƣợng không đổi. Đơn vị tính là mg/l. - Hàm lượng chất rắn hòa tan(DS): Tổng hàm lƣợng chất rắn hòa tan là những chất tan đƣợc trong nƣớc, bao gồm cả chất vô cơ lẫn hữu cơ.
Hàm lƣợng các chất hòa tan (DS) là lýợng khô của phần dung dịch lọc khi lọc 1 lít nƣớc mẫu qua phễu lọc có giấy lọc sợi thủy tinh rồi sấy khô ở 105 0 C cho tới khi khối lƣợng không đổi. Đơn vị tính là mg/l. DS = TS – SS. - Hàm lượng các chất dễ bay hơi (VS): Hàm lƣợng các chất rắn lơ lửng dễ bay hơi (VSS) là lƣợng mất đi khi nung lƣợng chất rắn huyền phù (SS) ở 5500C cho đến khi khối lƣợng không n 7 đổi (thƣờng đƣợc quy định trong một khoảng thời gian nhất định).
Hàm lƣợng các chất rắn hòa tan dễ bay hơi (VDS) là lƣợng mất đi khi nung lƣợng chất rắn hòa tan (DS) ở 5500C cho đến khi khối lƣợng không đổi (thƣờng đƣợc quy định trong một khoảng thời gian nhất định) (Đào Đoàn Mạnh, 2012) [6]. Các chỉ tiêu về hóa học - Độ kiềm toàn phần: Là tổng hàm lƣợng các ion HCO3-, CO32-, OH- có trong nƣớc. Độ kiềm trong nƣớc tự nhiên thƣờng gân nên bởi các muối của acid yếu, đặc biệt các muối carbonat và bicarbonat. - Độ cứng của nước: Là tổng hàm lƣợng của các ion Ca2+ và Mg2+.