Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hệ thống thoát nước khu vực nội thành thành phố Hải Phòng là một trong những công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, tuy nhiên phần lớn các hạng mục đã xuống cấp nghiêm trọng do vận hành quá tải và thiếu bảo dưỡng định kỳ trong nhiều năm. Hệ thống mạng lưới cống thoát nước mưa và nước thải của thành phố được xây dựng chủ yếu từ trước năm 1954. Qua các đợt khảo sát, lòng cống bị bồi lắng lớp bùn dày, nhiều tuyến hư hỏng nặng, việc xác định năng lực thoát nước gặp nhiều khó khăn do cống được xây dựng chắp vá cục bộ, thiếu quy hoạch tổng thể đồng bộ với tốc độ phát triển đô thị.

Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa nhanh cùng sự gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế khiến lưu lượng nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp tăng vọt. Do đặc thù địa hình Hải Phòng thấp và bằng phẳng, tình trạng ngập lụt diễn ra thường xuyên vào mùa mưa bão khi hệ thống thoát nước không đáp ứng kịp lưu lượng tràn mặt. Tuyến kênh thoát nước Tây Nam (kênh Vĩnh Niệm) đóng vai trò là trục tiêu thoát nước chính của khu vực Tây Nam thành phố, tiếp nhận nước từ các hồ điều hòa và lưu vực dân cư cũng như Cụm công nghiệp Vĩnh Niệm trước khi xả ra sông Lạch Tray. Tuy nhiên, việc tiếp nhận trực tiếp các nguồn thải chưa qua xử lý đạt chuẩn đã khiến kênh bị ô nhiễm nặng nề, nước đổi màu xanh đen và bốc mùi hôi thối.

Nhiệm vụ của đề tài được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu về hệ thống kênh thoát nước Tây Nam thành phố Hải Phòng.
  2. Nghiên cứu tài liệu, quan trắc và đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt tại kênh thoát nước Tây Nam thành phố Hải Phòng.
  3. Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho kênh thoát nước Tây Nam thành phố Hải Phòng.
  • Đối tượng nghiên cứu: Môi trường nước mặt tại kênh thoát nước Tây Nam thành phố Hải Phòng (trọng tâm là khu vực cửa xả Vĩnh Niệm).
  • Phạm vi không gian: Lưu vực thoát nước Tây Nam Hải Phòng, bao gồm hệ thống hồ điều hòa (Hồ Sen, Hồ Dư Hàng), tuyến kênh Tây Nam nối ra cống ngăn triều Vĩnh Niệm và khu vực lân cận Cụm công nghiệp Vĩnh Niệm, quận Lê Chân.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu quan trắc môi trường và chuỗi dữ liệu thứ cấp được thu thập, phân tích trong giai đoạn năm 2016 – 2017 (khóa luận hoàn thành năm 2018).

Cơ sở lý thuyết, quy chuẩn và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận áp dụng các cơ sở lý luận về quản lý chất lượng nước đô thị, kỹ thuật thoát nước, cơ chế tự làm sạch của thủy vực hở chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, cùng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành:

  • Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng: QCVN 08-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (sử dụng giá trị giới hạn tại Cột B2: áp dụng đối với nguồn nước mặt phục vụ mục đích giao thông thủy và các mục đích khác với yêu cầu nước chất lượng thấp).
  • Phương pháp đánh giá chất lượng nước: Áp dụng phương pháp tính toán Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI) do Tổng cục Môi trường ban hành để phân hạng mức độ ô nhiễm nguồn nước mặt theo các dải màu quy ước.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể đã thực hiện:
    • Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát hiện trạng tuyến cống, lòng kênh Tây Nam, các điểm xả thải của Cụm công nghiệp Vĩnh Niệm, hiện trạng vận hành cống ngăn triều và các hồ điều hòa liên quan.
    • Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2016, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Đông Bắc; dữ liệu kỹ thuật từ Dự án Thoát nước 1B và Dự án Vệ sinh ba thành phố (tiểu dự án Hải Phòng).
    • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh số liệu: Phân tích chuỗi số liệu quan trắc định kỳ (tháng 3, 6, 9, 12 của các năm 2016 và 2017) với 8 thông số lý - hóa - sinh gồm: pH, DO, TSS, BOD5 (20°C), COD, Amoni (NH4+ tính theo N), Phosphat (PO43- tính theo P) và Coliform.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu quan trắc được cung cấp bởi Trung tâm Quan trắc Môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng; hồ sơ kỹ thuật từ Công ty TNHH MTV Thoát nước Hải Phòng và Công ty Cấp nước Hải Phòng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan môi trường nước mặt khu vực nội thành thành phố Hải Phòng

Chương này trình bày bức tranh toàn diện về các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng thủy lợi, thoát nước tác động trực tiếp đến chất lượng nước mặt nội thành Hải Phòng:

  • Điều kiện tự nhiên và khí tượng: Hải Phòng nằm trong tọa độ 20°30’39” - 21°01’15” vĩ độ Bắc và 106°23’39” - 107°08’39” kinh độ Đông, diện tích đất liền 1.561,76 km², có 125 km bờ biển với 5 cửa sông chính (Lạch Huyện, Bạch Đằng, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình). Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa ven biển: nhiệt độ trung bình năm 22 – 25°C; độ ẩm trung bình dao động 80 – 92%; lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 1.800 mm (trong đó mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 80 – 90% tổng lượng mưa). Tổng số giờ nắng trong năm từ 1.398 – 1.714 giờ, là điều kiện thuận lợi cho quá trình phân hủy sinh học tự nhiên. Lượng bốc hơi trung bình đạt 700 – 750 mm/năm. Thành phố chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão từ tháng 7 đến tháng 9 với cấp gió từ 8 đến 12.
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội: Dân số năm 2016 đạt 1,98 triệu người (thành thị chiếm 46,7%), mật độ dân số trung bình 1.268 người/km². Dân cư tập trung mật độ rất cao tại các quận nội thành như Lê Chân (18.729 người/km²) và Ngô Quyền (15.314 người/km²), tạo áp lực rất lớn lên môi trường tiếp nhận nước thải. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) năm 2016 đạt 14,1%, sản xuất công nghiệp tăng 21,6%, kéo theo nhu cầu dùng nước và xả thải tăng cao.
  • Hệ thống hồ điều hòa: Đóng vai trò trữ và điều tiết nước mưa tràn mặt. Các hồ tiêu biểu gồm: Hồ An Biên (1,8 ha, sâu 3 m), Hồ Phương Lưu (>21 ha), Hồ Tiên Nga (2,5 ha, sâu 2,5 m), Hồ Dư Hàng (7 ha) và Hồ Sen (2 ha, sâu 2,5 m). Hồ Sen và Hồ Dư Hàng thuộc lưu vực thoát nước Tây Nam, tiếp nối trực tiếp với tuyến kênh Tây Nam.
  • Mạng lưới kênh dẫn nước chính: Gồm 3 tuyến trục:
    • Tuyến kênh Đông Bắc (kênh Đông Khê): Dài 3.464 m, rộng đáy 10 m, rộng mặt hạ lưu 25 m, sâu trung bình 2 m.
    • Tuyến kênh Tây Nam (kênh Vĩnh Niệm): Đoạn từ Hồ Sen ra Hồ Dư Hàng dài 1.077 m (rộng 6 – 12 m); đoạn từ Hồ Dư Hàng ra cống Vĩnh Niệm dài 1.552 m (rộng trung bình hạ lưu 25 m).
    • Tuyến kênh An Kim Hải: Tuyến thủy nông liên tỉnh, đoạn qua nội thành dài khoảng 10 km (chia làm 5 phân đoạn), hiện bị bồi lắng và chuyển hóa thành kênh tiêu thoát nước thải.
  • Hệ thống cống ngăn triều: Toàn mạng lưới có hơn 50 miệng xả và 8 cống ngăn triều chính (Máy Đèn, Vĩnh Niệm, Tam Bạc, Thượng Lý, Cát Bi, Trại Chuối, Ba Tổng, Lãn Ông). Ngoại trừ cống tự động Lãn Ông, các cống còn lại vận hành thủ công hoặc cơ khí theo con nước: mở khi triều rút để xả nước ra sông và đóng khi triều cường để ngăn ngập úng.
Tên cống ngăn triều Số cửa Kích thước mỗi cửa (B x H) Đặc điểm vận hành
Máy Đèn 3 2,5 m x 2,7 m Vận hành cơ khí (xây dựng năm 1971)
Vĩnh Niệm 3 2,5 m x 2,7 m Vận hành cơ khí (xây dựng năm 1975)
Tam Bạc 1 B = 1,2 m Vận hành cơ khí
Thượng Lý (2) 1 Ø 1000 mm Vận hành thủ công
Cát Bi 1 B = 2,7 m Vận hành thủ công
Trại Chuối 1 B = 2,3 m Vận hành thủ công
Ba Tổng 2 2,0 m x 3,0 m Sở NN&PTNT quản lý, vận hành thủ công
Lãn Ông 1 Ø 2000 mm Cửa lật tự động (hoạt động từ năm 1995)

Chương 2: Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt kênh thoát nước Tây Nam thành phố Hải Phòng

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng hạ tầng cống rãnh, các nguồn thải đổ vào kênh và chi tiết diễn biến nồng độ các chất ô nhiễm qua các đợt quan trắc năm 2016 – 2017:

  • Hiện trạng mạng lưới thoát nước: Mạng lưới cống nội thành là hệ thống thoát nước chung (thoát chung nước mưa và nước thải). Tổng chiều dài cống trục chính là 69,6 km (đường kính 400 – 1200 mm), cống nhánh cấp 2 và cấp 3 là 192,3 km (đường kính 200 – 600 mm). Nhiều đoạn cống vòm gạch xây từ trước năm 1954 trên các tuyến đường Lý Tự Trọng, Lạch Tray, Đà Nẵng đã bị bong tróc vữa, thành cống mục nát.
  • Nguồn phát sinh nước thải:
    • Nhu cầu cấp nước đô thị dự báo đạt 197.000 m³/ngày vào năm 2020. Lượng nước cấp sản xuất trung bình đạt 88.000 m³/ngày, lưu lượng nước thải trung bình ước tính khoảng 60.000 m³/ngày (chiếm khoảng 80% lượng nước cấp). Nước thải công nghiệp xả vào hệ thống cống và sông hồ ước tính 18.000 m³/ngày.
    • Thành phố hầu như chưa có hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung riêng biệt (ngoại trừ trạm bơm Đổng Quốc Bình công suất 1.200 m³/ngày xả ra hồ Cát Bi nhưng hệ thống đường ống đã xuống cấp).
  • Nguồn ô nhiễm từ Cụm công nghiệp (CCN) Vĩnh Niệm: CCN Vĩnh Niệm thành lập năm 2001, đi vào hoạt động từ 2003, có 28 doanh nghiệp đang hoạt động trên nhiều lĩnh vực nguy cơ ô nhiễm cao (chế biến thủy sản, sản xuất thức ăn gia súc, dệt nhuộm, sản xuất bóng đèn). Mặc dù có 28 doanh nghiệp nhưng chỉ có 4 cửa xả chung đổ thẳng ra kênh Tây Nam. Trạm xử lý nước thải tập trung của CCN (gồm 2 hố điều hòa và 2 máy bơm) đã bị rỉ sét, hỏng hóc hoàn toàn và không hoạt động. Tình trạng chuyển nhượng mặt bằng không khai báo và đốt trộm rác thải công nghiệp/nguy hại vẫn diễn ra.
  • Diễn biến chất lượng nước mặt kênh Tây Nam (cửa xả Vĩnh Niệm) giai đoạn 2016 – 2017:
Thông số quan trắc Đơn vị Giá trị điển hình (Tháng 3/2016) QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B2) Đánh giá mức độ tuân thủ (2016 - 2017)
pH - 7,52 5,5 – 9,0 Đạt chuẩn trong tất cả các đợt quan trắc
DO mg/l 2,35 ≥ 2 Đạt chuẩn qua tất cả các đợt quan trắc
TSS mg/l 45,0 100 Đạt chuẩn, nồng độ duy trì dưới ngưỡng giới hạn
BOD5 (20°C) mg/l 28,9 25 Vượt chuẩn 1,06 – 1,16 lần (2016); vượt 1,4 lần (tháng 6/2017)
COD mg/l 62,5 50 Vượt chuẩn vào tháng 3, 9/2016 và tháng 3, 6, 9/2017
Amoni (NH4+-N) mg/l 9,36 0,9 Ô nhiễm rất nghiêm trọng, vượt chuẩn từ 5 đến hơn 10 lần ở tất cả các đợt
Phosphat (PO43--P) mg/l 1,25 0,5 Vượt chuẩn 1,5 – 2,5 lần (2016); vượt 1,42 lần (tháng 6/2017)
Coliform MPN/100ml 500.000 10.000 Vượt chuẩn tới 50 lần trong năm 2016; năm 2017 có giảm nhưng vẫn vượt ngưỡng
  • Đánh giá theo Chỉ số chất lượng nước (WQI):
    • Nhóm vật lý (pH, DO, TSS): Tỷ lệ mẫu không đạt quy chuẩn là 0% ở cả 2 năm 2016 và 2017 (0/12 mẫu).
    • Nhóm hữu cơ (COD, BOD5): Tỷ lệ không đạt là 62,5% (5/8 mẫu) năm 2016 và giảm xuống 50,0% (4/8 mẫu) năm 2017.
    • Nhóm dinh dưỡng (NH4+, PO43-): Tỷ lệ không đạt là 87,5% (7/8 mẫu) năm 2016 và 58,3% (5/8 mẫu) năm 2017.
    • Nhóm vi sinh (Coliform): Tỷ lệ không đạt là 100% (4/4 mẫu) năm 2016 và giảm còn 50,0% (2/4 mẫu) năm 2017.
    • Tổng hợp 8 thông số: Tỷ lệ không đạt chuẩn giảm từ 50,0% (16/32 lượt phân tích) năm 2016 xuống còn 34,4% (11/32 lượt phân tích) năm 2017.
    • Phân hạng mức độ ô nhiễm theo WQI: Năm 2016, 100% các đợt quan trắc (tháng 3, 6, 9, 12) đều ở mức Đỏ (ô nhiễm nặng, nước cần xử lý). Sang năm 2017, chất lượng nước có cải thiện cục bộ: 50% ở mức Đỏ (tháng 3 và 12), 25% ở mức Da cam (ô nhiễm - tháng 6), và 25% ở mức Vàng (chất lượng trung bình, sử dụng được cho giao thông thủy - tháng 9).

Chương 3: Các thách thức trong bảo vệ môi trường, một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước mặt kênh thoát nước Tây Nam thành phố Hải Phòng

  • Các thách thức chính:
    • Ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư ven kênh còn hạn chế, tình trạng vứt rác thải sinh hoạt, phế thải xây dựng, lấn chiếm lòng kênh gây thu hẹp mặt cắt và tắc nghẽn dòng chảy.
    • Trạm xử lý nước thải tập trung của CCN Vĩnh Niệm bị tê liệt hoàn toàn; các cơ sở sản xuất có nguy cơ ô nhiễm cao nằm xen kẽ trong khu dân cư; khó khăn trong việc xác định trách nhiệm xả thải do dùng chung 4 cửa xả.
    • Cống ngăn triều Vĩnh Niệm xuống cấp nghiêm trọng, hệ thống cột dầm và cơ cấu kéo cửa phai bị hư hỏng nặng từ nhiều năm, vận hành trong điều kiện nguy hiểm, ảnh hưởng đến khả năng điều tiết nước.
  • Các biện pháp đã thực hiện:
    • Thành phố đã tiến hành nạo vét khoảng 90.000 m³ bùn, cải tạo 6,2 km kênh Đông Bắc và Tây Nam, xây dựng 6,2 km kè bảo vệ, láng 2,1 km đáy kênh và cải tạo 8 cống ngăn triều.
    • Dự án Vệ sinh ba thành phố (gói thầu C1A, C1C, C1D) phối hợp với các nhà thầu tiến hành khảo sát CCTV, nạo vét và làm sạch mạng lưới cống.
    • Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Lê Chân đã cấp hồ sơ bảo vệ môi trường cho 26/30 doanh nghiệp tại CCN Vĩnh Niệm, tăng cường kiểm tra, nhắc nhở và xử phạt vi phạm.
  • Các giải pháp đề xuất:
    • Nhóm giải pháp đối với CCN Vĩnh Niệm: Yêu cầu Ban quản lý và các doanh nghiệp phục hồi, vận hành trạm xử lý nước thải tập trung; bắt buộc các cơ sở sản xuất có nguy cơ ô nhiễm cao (thủy sản, dệt nhuộm, thức ăn gia súc) xây dựng hệ thống xử lý sơ bộ đạt tiêu chuẩn trước khi đấu nối; thực hiện chủ trương của thành phố về di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư nội đô.
    • Nhóm giải pháp kỹ thuật hạ tầng: Cải tạo, sửa chữa khẩn cấp cống ngăn triều Vĩnh Niệm để đảm bảo an toàn vận hành; định kỳ nạo vét bùn lắng tại lòng kênh Tây Nam và các hồ liên thông (Hồ Sen, Hồ Dư Hàng); từng bước đầu tư tách mạng lưới thu gom nước thải riêng biệt với hệ thống thoát nước mưa.
    • Nhóm giải pháp quản lý và vận hành: Tăng cường quan trắc định kỳ; phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, Công ty Thoát nước Hải Phòng và Cảnh sát môi trường nhằm ngăn chặn triệt để hành vi xả trộm nước thải và đốt rác thải nguy hại; tối ưu hóa lịch đóng mở cống ngăn triều theo con nước để tăng hiệu quả tự làm sạch tự nhiên của tuyến kênh.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính:
    • Đã hệ thống hóa toàn diện hiện trạng kỹ thuật của mạng lưới thoát nước nội thành Hải Phòng (69,6 km cống trục chính, 192,3 km cống cấp 2, 3 và 8 cống ngăn triều chủ yếu).
    • Cung cấp chuỗi số liệu quan trắc thực chứng 8 thông số môi trường tại kênh Tây Nam trong 2 năm 2016 – 2017, khẳng định nguồn nước bị ô nhiễm chất hữu cơ (BOD5, COD), ô nhiễm chất dinh dưỡng rất nặng (Amoni luôn vượt ngưỡng cho phép nhiều lần, có thời điểm đạt 9,36 mg/l so với chuẩn 0,9 mg/l) và vi sinh vật (Coliform năm 2016 đạt tới 500.000 MPN/100ml).
    • Lượng hóa diễn biến chất lượng nước thông qua chỉ số WQI, chỉ rõ sự chuyển biến từ 100% mẫu ô nhiễm nặng (mức Đỏ) năm 2016 sang mức ô nhiễm phân hóa trong năm 2017 (50% Đỏ, 25% Da cam, 25% Vàng).
  • Đóng góp của tác giả:
    • Khóa luận đã phản ánh đúng thực trạng bất cập giữa phát triển công nghiệp tập trung (CCN Vĩnh Niệm) với hạ tầng xử lý chất thải bị tê liệt, cung cấp bức tranh thực tế cho công tác quản lý môi trường tại quận Lê Chân.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp kết hợp giữa quản lý nguồn thải công nghiệp, nâng cấp công trình ngăn triều và tối ưu hóa quy trình điều tiết thủy lực tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Vị trí quan trắc chất lượng nước mới tập trung chủ yếu tại một điểm đại diện là cửa xả Vĩnh Niệm, chưa bố trí mạng lưới điểm đo phân bố đều trên toàn tuyến kênh (đặc biệt là đoạn thượng lưu từ Hồ Sen đến Hồ Dư Hàng).
    • Chưa tiến hành lấy mẫu và phân tích lưu lượng, tải lượng ô nhiễm độc lập tại từng cửa xả của 28 doanh nghiệp bên trong CCN Vĩnh Niệm do khó khăn về điều kiện tiếp cận hạ tầng đấu nối.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Thiết lập mạng lưới quan trắc đa điểm dọc theo toàn tuyến kênh Tây Nam và các nhánh dẫn phụ lưu để đánh giá sự biến đổi nồng độ chất ô nhiễm theo không gian.
    • Ứng dụng các mô hình toán thủy lực và chất lượng nước (như MIKE 11, QUAL2K) nhằm mô phỏng lan truyền chất ô nhiễm và tính toán chế độ đóng/mở tối ưu cho cống ngăn triều Vĩnh Niệm theo chu kỳ triều sông Lạch Tray.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Hạ tầng Đô thị và Cấp thoát nước.
  • Giá trị học thuật và thực tiễn:
    • Cung cấp phương pháp luận và biểu mẫu chi tiết trong việc ứng dụng chỉ số WQI và quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT để đánh giá chất lượng nước mặt kênh thoát nước đô thị.
    • Cung cấp nguồn số liệu cơ sở về đặc tính thủy văn, hạ tầng cống trục và thực trạng ô nhiễm cục bộ tại khu vực đô thị ven biển Hải Phòng giai đoạn 2016 – 2018.

Câu hỏi thường gặp

1. Kênh thoát nước Tây Nam Hải Phòng có chiều dài và quy mô như thế nào?
Tuyến kênh Tây Nam (kênh Vĩnh Niệm) gồm 2 đoạn chính: đoạn từ Hồ Sen ra Hồ Dư Hàng dài 1.077 m với bề rộng trung bình 6 – 12 m; đoạn từ Hồ Dư Hàng ra cống ngăn triều Vĩnh Niệm dài 1.552 m với bề rộng trung bình hạ lưu khoảng 25 m. Kênh đã được kè bờ 2 bên và kết nối liên hoàn với các hồ điều hòa và sông Lạch Tray.

2. Thông số môi trường nào tại kênh Tây Nam bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất trong giai đoạn 2016 – 2017?
Amoni (NH4+ tính theo N) là thông số ô nhiễm nặng nhất, vượt quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B2: 0,9 mg/l) ở tất cả các đợt quan trắc trong 2 năm, có thời điểm tháng 3/2016 nồng độ đo được lên tới 9,36 mg/l (gấp hơn 10 lần giới hạn cho phép). Ngoài ra, Coliform trong năm 2016 cũng vượt ngưỡng rất cao, đạt 500.000 MPN/100ml (giới hạn là 10.000 MPN/100ml).

3. Thực trạng hệ thống xử lý nước thải tại Cụm công nghiệp Vĩnh Niệm được ghi nhận ra sao?
CCN Vĩnh Niệm có 28 doanh nghiệp đang hoạt động nhưng trạm xử lý nước thải tập trung (gồm 2 hố điều hòa và 2 máy bơm) đã bị rỉ sét, hư hỏng và hoàn toàn không hoạt động. Toàn bộ nước thải của các cơ sở được gom qua 4 cửa xả và thải trực tiếp ra kênh Tây Nam gây ô nhiễm nghiêm trọng.

4. Chỉ số chất lượng nước (WQI) tại cửa xả Vĩnh Niệm thay đổi như thế nào giữa năm 2016 và 2017?
Năm 2016, 100% các đợt quan trắc đều ở mức Đỏ (ô nhiễm nặng). Năm 2017, tỷ lệ không đạt quy chuẩn chung giảm từ 50,0% xuống 34,4%; phân hạng WQI ghi nhận 50% mức Đỏ (tháng 3, 12), 25% mức Da cam (ô nhiễm - tháng 6) và 25% mức Vàng (chất lượng trung bình, sử dụng được cho giao thông thủy - tháng 9).

5. Cống ngăn triều Vĩnh Niệm giữ vai trò gì và hiện trạng công trình như thế nào?
Cống Vĩnh Niệm (gồm 3 cửa kích thước 2,5 m x 2,7 m, xây dựng năm 1975) có nhiệm vụ ngăn triều cường từ sông Lạch Tray tràn vào kênh và mở cửa khi triều rút để tiêu thoát nước, hỗ trợ tự làm sạch. Tuy nhiên, hệ thống cột dầm và cơ cấu kéo cửa phai của cống đã hư hỏng nặng từ nhiều năm, vận hành trong tình trạng nguy hiểm và cần được cải tạo khẩn cấp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Việt đã phản ánh chi tiết và khách quan hiện trạng ô nhiễm môi trường nước mặt tại kênh thoát nước Tây Nam thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2016 – 2017. Kết quả nghiên cứu khẳng định nguồn nước tại đây bị ô nhiễm hữu cơ, vi sinh và đặc biệt là ô nhiễm dinh dưỡng (Amoni) nghiêm trọng do tiếp nhận nước thải sinh hoạt chưa tách dòng và sự tê liệt trạm xử lý của Cụm công nghiệp Vĩnh Niệm. Trên cơ sở phân tích diễn biến WQI và hiện trạng hạ tầng, tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ từ sửa chữa cống ngăn triều, nạo vét lòng kênh đến kiểm soát nghiêm ngặt các nguồn xả thải công nghiệp nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước đô thị Hải Phòng.