Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I và trung tâm công nghiệp lớn thứ ba tại miền Bắc, giữ vai trò hạt nhân kinh tế của tỉnh Thái Nguyên cũng như toàn vùng trung du miền núi phía Bắc. Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh và mật độ dân số tập trung cao, nhu cầu khai thác nước mặt trên địa bàn đạt 141,59 triệu m3 mỗi năm, chiếm khoảng 22,7% tổng lượng nước khai thác toàn tỉnh (648,83 triệu m3/năm). Tuy nhiên, sự bùng nổ của các ngành sản xuất gang thép, luyện kim, khai khoáng, sản xuất giấy cùng với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đang tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống tài nguyên nước mặt.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự suy giảm chất lượng nước và tình trạng quá tải nguồn tiếp nhận nước thải trên dòng chính sông Cầu và các phụ lưu nội đô. Hệ thống thoát nước của thành phố chủ yếu vẫn là hệ thống chung cho cả nước mưa lẫn nước thải sinh hoạt và sản xuất, đa phần xả thẳng ra các suối tự nhiên rồi đổ dồn về sông Cầu mà chưa qua xử lý triệt để.

Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện thực trạng chất lượng nước mặt sông Cầu và 5 suối phụ lưu chính; thống kê, phân tích hoạt động khai thác và xả thải của 29 doanh nghiệp quy mô lớn; đồng thời kiểm tra chất lượng nguồn cấp nước sinh hoạt từ hồ Núi Cốc. Phạm vi nghiên cứu bao quát đoạn sông Cầu dài khoảng 30 km chảy qua thành phố cùng mạng lưới kênh rạch liên quan trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiết, cung cấp bộ chỉ số môi trường định lượng giúp các cơ quan quản lý xác định chính xác các điểm nóng ô nhiễm, phân bổ nguồn nước công bằng và thiết lập giải pháp giảm thiểu ô nhiễm hữu cơ cho toàn lưu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của lý thuyết quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông và lý thuyết sức tải môi trường nước mặt. Quản lý lưu vực sông là phương thức điều phối liên ngành, không bị giới hạn bởi địa giới hành chính, nhằm cân bằng giữa nhu cầu khai thác phục vụ phát triển kinh tế với yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái thủy vực tự nhiên.

Mô hình nghiên cứu kết hợp giữa đánh giá phát thải tại nguồn và phân tích diễn biến chất lượng nước mặt thông qua các nhóm thông số vật lý, hóa học và sinh học. Các khái niệm cốt lõi được áp dụng xuyên suốt gồm: ô nhiễm nguồn nước, suy thoái tài nguyên nước, cạn kiệt nguồn nước, chỉ thị môi trường và sức tự làm sạch của sông ngòi được quy định chi tiết trong Luật Tài nguyên nước năm 2012 và Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hai kênh chính: dữ liệu thứ cấp từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2015, kết hợp dữ liệu quan trắc thực địa độc lập của tác giả trong nửa đầu năm 2016.

Mạng lưới lấy mẫu được thiết lập gồm 5 vị trí dọc sông Cầu theo tiến trình dòng chảy: trạm Hòa Bình (thượng nguồn trước khi hợp lưu sông Đu), trạm Sơn Cẩm (sau hợp lưu sông Đu 1 km), trạm Cầu Gia Bảy (trung tâm đô thị, sau khi nhận suối Mỏ Bạch), trạm Đập Thác Huống (sau khi nhận suối Xương Rồng và suối Loàng), và trạm Cầu Mây (hạ lưu thành phố thuộc huyện Phú Bình). Cùng với đó là 5 trạm quan trắc trên 5 con suối phụ lưu huyết mạch tiếp nhận nước thải chính gồm suối Mỏ Bạch, suối Xương Rồng, suối Loàng, suối Cam Giá và suối Phố Hương, cùng 2 điểm đối chứng tại hồ Núi Cốc và kênh dẫn nước Tích Lương. Cỡ mẫu tổng cộng gồm 6 đợt lấy mẫu định kỳ mỗi năm trong 2 năm 2014 và 2015, bổ sung 3 đợt lấy mẫu kiểm chứng chuyên sâu trong năm 2016.

Phương pháp chọn mẫu dựa trên lát cắt dọc không gian trước, trong và sau các nguồn thải lớn nhằm phản ánh chính xác tác động nhân tạo. Quy trình lấy mẫu và bảo quản tuân thủ nghiêm ngặt theo Thông tư số 29/2011/TT-BTNMT, TCVN 6663-3:2008 và TCVN 6663-6:2008. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm áp dụng tiêu chuẩn Standard Methods for the Examination of Water and Wastewater (SMEWW) và TCVN cho 10 thông số trọng yếu: pH, BOD5, COD, TSS, NH4+, Fe, As, Cd, Pb và Coliform. Phương pháp này được lựa chọn nhờ tính chuẩn hóa quốc tế, độ tin cậy và độ nhạy cao, cho phép so sánh đối chiếu chuẩn xác với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A2 cho sông Cầu, hồ Núi Cốc và cột B1 cho các suối phụ lưu). Toàn bộ quá trình nghiên cứu và xử lý số liệu được triển khai thực hiện từ tháng 09/2015 đến tháng 09/2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu sử dụng nước mặt của thành phố Thái Nguyên có sự thiên lệch lớn về công nghiệp. Trong tổng lượng nước mặt khai thác 141,59 triệu m3/năm, ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 63,5% (89,94 triệu m3/năm), tiếp theo là nông nghiệp chiếm 28,0% (39,68 triệu m3/năm), trong khi cấp nước sinh hoạt và dịch vụ du lịch chỉ chiếm 8,5% (11,97 triệu m3/năm). Đặc biệt, nguồn cung cho sản xuất công nghiệp phụ thuộc tới 93,6% vào nước mặt tự nhiên.

Thứ hai, công tác quản lý và cấp phép xả thải còn nhiều lỗ hổng nghiêm trọng. Thống kê 29 đơn vị có quy mô xả thải lớn trên địa bàn cho thấy mới chỉ có 13 đơn vị được cấp giấy phép xả thải chính thức (đạt tỷ lệ 44,8%). Còn lại hơn 55,2% đơn vị chỉ xử lý sơ bộ hoặc chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý nhưng vẫn trực tiếp xả thải hàng ngàn mét khối nước mỗi ngày đêm. Điển hình như Nhà máy cán thép Lưu Xá xả 4.800 m3/ngày.đêm vào suối Cam Giá, Công ty Cổ phần Giấy Hoàng Văn Thụ xả 1.570 m3/ngày.đêm ra sông Cầu, và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vật liệu chịu lửa Thái Nguyên xả 1.110 m3/ngày.đêm vào cống chung.

Thứ ba, chất lượng nước sông Cầu suy giảm rõ rệt khi chảy qua khu vực đô thị với dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ cục bộ. Tại vị trí Cầu Gia Bảy, hàm lượng BOD5 trung bình năm 2015 đạt 5,13 mg/l, tăng so với mức 4,87 mg/l của năm 2014. Đáng chú ý, đợt quan trắc số 3 năm 2015 ghi nhận BOD5 tại Cầu Gia Bảy tăng vọt lên 10,1 mg/l, vượt 1,68 lần so với giới hạn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A2 (ngưỡng 6 mg/l). Xuống đến hạ lưu tại Cầu Mây, BOD5 trong đợt 3 năm 2015 chạm mức 12 mg/l, vượt 2,0 lần quy chuẩn.

Thứ tư, tất cả 5 suối phụ lưu nội đô đều bị ô nhiễm nặng bởi chất hữu cơ, amoni và vi sinh vật Coliform, vượt xa quy chuẩn cột B1. Cụ thể, suối Cam Giá và suối Loàng tiếp nhận nước thải công nghiệp luyện kim còn xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng như chì (Pb) và cadimi (Cd), khiến nguồn nước tại đây hoàn toàn mất khả năng sử dụng cho mục đích tưới tiêu hay sinh hoạt.

Thảo luận kết quả

Diễn biến chất lượng nước mặt phản ánh rõ nét sự quá tải hạ tầng xử lý chất thải của thành phố. Hiện tại chỉ có khoảng 30% lượng nước thải sinh hoạt được xử lý qua bể tự hoại gia đình trước khi xả ra môi trường. Trạm xử lý nước thải tập trung tại phường Gia Sàng mới chỉ thu gom được khu vực các phường phía Bắc, khiến toàn bộ lượng nước thải của các phường phía Nam xả thẳng ra các suối nhánh.

Yếu tố thủy văn và biến đổi khí hậu theo mùa cũng tác động mạnh mẽ đến chất lượng nước. Lưu lượng dòng chảy sông Cầu có sự chênh lệch khắc nghiệt giữa mùa lũ (lên đến 3.500 m3/giây) và mùa kiệt (chỉ đạt 7,5 m3/giây). Vào mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng nước sụt giảm làm mất đi khả năng tự làm sạch tự nhiên của dòng sông, dẫn đến việc tích tụ các chất ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng.

Dữ liệu quan trắc qua các đợt có thể được mô hình hóa trực quan thông qua các biểu đồ đường diễn biến nồng độ đa thông số và bảng ma trận đối sánh không gian. Khi đặt cạnh các nghiên cứu tại các lưu vực sông Nhuệ - Đáy hay sông Thị Vải, mức độ ô nhiễm của sông Cầu đoạn qua thành phố Thái Nguyên tuy chưa biến thành sông chết nhưng đã phát đi cảnh báo đỏ về nguy cơ suy thoái nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và nâng cấp hạ tầng thoát nước, xử lý nước thải đô thị. Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên và Công ty Thoát nước và Phát triển hạ tầng đô thị cần đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt cho các phường phía Nam, vận hành hết công suất thiết kế của Trạm xử lý nước thải Gia Sàng. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý đạt chuẩn từ 30% lên tối thiểu 75% vào năm 2020, giảm 40% tải lượng chất hữu cơ đổ ra sông Cầu.

Thứ hai, tăng cường thanh tra, kiểm soát và chuẩn hóa 100% hoạt động xả thải công nghiệp. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cần lập đoàn kiểm tra liên ngành, rà soát toàn diện 16 đơn vị chưa được cấp phép xả thải, đặc biệt là các cơ sở luyện kim, sản xuất giấy, vật liệu xây dựng trong Khu công nghiệp Lưu Xá. Bắt buộc các nhà máy phải nâng cấp trạm xử lý nước thải nội bộ đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT trước khi xả ra nguồn tiếp nhận, hoàn thành cấp phép dứt điểm trước năm 2018.

Thứ ba, thiết lập mạng lưới quan trắc tự động và cảnh báo sớm ô nhiễm nguồn nước. Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh cần triển khai lắp đặt hệ thống trạm quan trắc tự động liên tục tại các điểm xung yếu như Cầu Gia Bảy, Đập Thác Huống và cửa xả suối Cam Giá. Hệ thống này giúp truyền dẫn dữ liệu thời gian thực 24/7 về trung tâm chỉ huy, đảm bảo phát hiện các sự cố xả lén hoặc nồng độ chất thải vượt ngưỡng trong vòng 60 phút, thực hiện trong giai đoạn 2017 - 2019.

Thứ tư, thực hiện nạo vét, khơi thông dòng chảy và cải tạo sinh thái các suối phụ lưu. Chính quyền thành phố cùng các đoàn thể địa phương cần triển khai dự án kè bờ, nạo vét bùn lắng định kỳ hàng năm tại 5 con suối nhánh (suối Mỏ Bạch, Xương Rồng, Loàng, Cam Giá, Phố Hương), đồng thời xây dựng các vùng đệm thủy sinh thực vật nhằm tăng cường khả năng tự làm sạch của nguồn nước trong giai đoạn 2017 - 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp tỉnh và thành phố, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường và Phòng Quản lý Tài nguyên nước. Luận văn cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng và phương pháp đánh giá tải lượng xả thải cụ thể để phục vụ việc xây dựng quy hoạch phân bổ tài nguyên nước mặt đến năm 2020, định hướng 2030 theo Quyết định số 1162/QĐ-UBND của tỉnh Thái Nguyên.

Thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, ban quản lý khu công nghiệp Gang thép Lưu Xá và các nhà máy trên địa bàn. Số liệu phân tích dòng thải giúp các đơn vị nhận diện rõ đặc tính ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng trong nước thải của đơn vị mình, từ đó lựa chọn công nghệ xử lý cục bộ phù hợp nhằm tuân thủ quy chuẩn xả thải hiện hành.

Thứ ba, các công ty dịch vụ công ích và cấp thoát nước đô thị như Công ty Thoát nước và Phát triển hạ tầng đô thị, Công ty Cổ phần Nước sạch Thái Nguyên. Dữ liệu chất lượng nước tại trạm Tích Lương và hồ Núi Cốc là tài liệu quan trọng để điều chỉnh quy trình xử lý nước sinh hoạt, đảm bảo an toàn cấp nước cho hơn 280.000 dân cư.

Thứ tư, giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Tài nguyên Nước. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp quan trắc thực địa, cách thức kết hợp dữ liệu nhiều năm và kỹ năng xử lý số liệu môi trường theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước sông Cầu đoạn chảy qua thành phố Thái Nguyên là gì? Sự suy giảm chất lượng nước bắt nguồn từ việc tiếp nhận đồng thời nước thải sinh hoạt của hơn 280.000 dân cư chưa qua xử lý triệt để và nước thải công nghiệp từ các nhà máy luyện kim, giấy, nhiệt điện có lưu lượng xả thải lên tới hàng ngàn mét khối mỗi ngày đêm, kết hợp lưu lượng dòng chảy mùa kiệt rất thấp (chỉ 7,5 m3/giây) làm giảm mạnh khả năng tự pha loãng.

Tại sao chỉ số BOD5 tại vị trí Cầu Gia Bảy và Cầu Mây lại tăng cao vượt ngưỡng cho phép vào mùa khô? Cầu Gia Bảy là điểm tiếp nhận nước từ suối Mỏ Bạch mang theo tải lượng hữu cơ đậm đặc từ các khu dân cư và nhà máy phía Bắc thành phố, khiến BOD5 đợt 3 năm 2015 đạt 10,1 mg/l (vượt 1,68 lần quy chuẩn A2). Cầu Mây nằm ở hạ lưu tiếp nhận toàn bộ chất thải tích tụ của cả khu vực đô thị và Khu công nghiệp Lưu Xá nên BOD5 tăng vọt lên 12 mg/l.

Tỷ lệ 44,8% doanh nghiệp xả thải được cấp phép phản ánh thực trạng gì trong quản lý môi trường? Tỷ lệ này cho thấy công tác kiểm soát môi trường công nghiệp còn nhiều bất cập khi có tới hơn 55% đơn vị xả thải lớn chưa đáp ứng đủ điều kiện cấp phép hoặc chỉ xử lý sơ bộ. Điều này gây khó khăn cho việc quản lý nhà nước và đẩy toàn bộ rủi ro ô nhiễm sang nguồn tiếp nhận là các con suối và sông Cầu.

Nguồn nước phục vụ sinh hoạt từ hồ Núi Cốc cấp cho Nhà máy nước Tích Lương có an toàn không? Nguồn nước mặt hồ Núi Cốc đoạn phía Nam có chất lượng tương đối ổn định và cơ bản đáp ứng quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A2 phục vụ mục đích cấp nước sinh hoạt sau khi xử lý. Tuy nhiên, nguồn nước này vẫn cần được theo dõi nghiêm ngặt để phòng ngừa hiện tượng phú dưỡng và ô nhiễm vi sinh vật do các hoạt động du lịch xung quanh hồ.

Giải pháp nào được đánh giá là cấp bách nhất để cải thiện chất lượng nước mặt thành phố Thái Nguyên? Giải pháp cấp thiết hàng đầu là phải đưa vào vận hành đồng bộ và mở rộng mạng lưới thu gom của Trạm xử lý nước thải đô thị tập trung tại phường Gia Sàng, kết hợp buộc 100% các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn phải xử lý nước thải đạt chuẩn trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng khai thác 141,59 triệu m3 nước mặt mỗi năm tại thành phố Thái Nguyên, trong đó ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 63,5%.
  • Đã điều tra, thống kê chi tiết 29 nguồn xả thải quy mô lớn, chỉ ra thực trạng đáng báo động khi chỉ có 44,8% cơ sở được cấp giấy phép xả thải hợp quy.
  • Đánh giá chính xác mức độ ô nhiễm hữu cơ trên dòng chính sông Cầu, ghi nhận chỉ số BOD5 tại Cầu Gia Bảy và Cầu Mây vượt từ 1,68 đến 2,0 lần quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A2 vào mùa khô.
  • Xác định tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng tại 5 phụ lưu chính, đặc biệt là hiện tượng tích tụ kim loại nặng chì và cadimi tại suối Cam Giá và suối Loàng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quản lý và chính sách đồng bộ, khả thi nhằm bảo vệ tài nguyên nước mặt thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn 2016 - 2022.

Công trình là tài liệu khoa học có giá trị thực tiễn cao, đóng góp nền tảng số liệu quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên nước và quy hoạch môi trường đô thị. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2017 đến năm 2022, việc triển khai trạm quan trắc tự động và hoàn thiện nhà máy xử lý nước thải tập trung là những bước đi mang tính quyết định. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng hãy cùng chung tay áp dụng ngay các giải pháp khoa học này để bảo vệ nguồn nước sông Cầu xanh, sạch và bền vững.