CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU VÀ KHU VỰC VINH HẠ LONG 11, Tổng quan về các nghiên cứu 6 nhiễm nước và trầm tích vịnh Hạ Long Vinh Hạ Long là một trong các vịnh lớn cua cả nước có diện tích I.553kmỶ, phía nam tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, phía đông và đồng bắc tiếp giáp với vịnh Bái Tử Long, phía tây nam tiếp giáp với đảo Cát Bà của TP.Hải Phòng. Trung tâm vịnh có độ sâu lớn nhất 25m, độ sâu trung bình Sm, bé rộng của vịnh 22km, bé dài 20km [3]. Được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thé giới vào năm 1994 và được công nhận thêm giá trị địa chất - địa mạo vào năm 2000, vịnh Hạ Long là một tài sản quý của Vi Nam cần được bảo tổn và bảo vệ trước những tác động tiêu cực do con người gây nên từ hoạt động kinh tế - xã hội. Với tầm quan trong của vinh Hạ Long, đã có khá nhiều nghiên cứu, phân tích và dự báo về môi trường vịnh Hạ Long do cơ quan quản lý của tinh Quảng Ninh, các nhà khoa học, các tổ chức trong nước và gu LLL.
Mật số nghiên cứu về nhiễm mước vịnh Hạ Long Hàng năm, Sở Tải nguyên và Mai trường tinh Quảng Ninh và Ban Quản lý vịnh Hạ Long thường xuyên quan tric định kỳ chất lượng nước vịnh Hạ Long theo chương trình, Các số iệu quan trắc được phân tích, đánh giá nhằm đưa ra nhận định về hiện trạng chất lượng nước vịnh tài thời điểm quan trắc. Từ số liệu quan trắc nhiều năm. cùng với xác định các nguồn thải được thống kê tir đó đưa ra những dự báo về tình hình chất lượng nước trong thời gian tới "Nhìn chung, các nại cứu trước đây về môi trường chất lượng nước vịnh Hạ Long là dựa trên các thông số hóa lý - sinh của nước vịnh dé phân tích và đưa ra phân vùng chất lượng nước vịnh Hạ Long "Những nghiên cứu vé chất lượng nước rong vịnh Hạ Long được các tác giả đề cập đến anh hưởng của đầu - mỡ, xyanua, dinh dưỡng tan trong nước cho thấy có sự ra tăng trong những năm gần day ở dai ven bờ Việt Nam trong đó có vịnh Hạ Long (đồng tác giả Vũ Thị Lựu, Cao thị Thu Trang năm 2010); Tác giả Dương Thanh Nghị năm 2011 đã nghiên cứu vé các chất ô nhiễm hữu cơ bền. như PAHs, PCBs và hóa chất bảo vệ thực vật gốc clo có mặt trong nước và trong cơ thể sinh vật.
Kim loại nặng trong nước với các thông số Mn, Cu, Pb, Zn, As, Cd, He cho thấy chi có Ma và Pb vượt tiêu chun QCVN10:2008/BTNMT của tác giả Phạm “Thị Nga năm 2011 Tác gia Nguyễn Thị Thể Nguyên đã có nghiên cứu nhận điện các áp lực đến chất lượng nước vịnh Hạ Long, hiện trang và diễn biến chit lượng nước vịnh trong nhiễu năm và dự báo diễn biến chất lượng nước vịnh rong thi gian tới, đồng thời để xuất hoàn thiện thêm các thông số quan trắc chất lượng nước vịnh như: COD, TOC, POs". chlorophyll a vào danh mục các thông số cin quan trắc đo đạc [1] “Tổ chức Bảo tổn Thiên nhiên Quốc tễIUCN) cũng tiễn hành nghiên cứu nhận diện và phân loại các nguồn gây ô nhiễm chỉnh đến nước vịnh từ góc nhìn của các doanh nghiệp du lịch trên vịnh Hạ Long [4]. Tuy nt nghiên cứu trên mới chỉ mang tính định tính các chit 6 nhiễm tên vịnh Hạ Long từ phương pháp điều tra, khảo sắt mang tính cảm quan từ các đối tượng thuộc nhóm du lịch (chủ tàu, thuyền trưởng, khách sạn, nhà hàng) về hiện trang chất lượng nước vịnh Hạ Long. Thông qua nghiên cứu này, IUCN đã tổng hợp những nhận định cảm quan về 6 nhiễm môi trường nước vịnh Hạ Long inh giá sie tải của nước vịnh Hạ Long được đề cập đến dưới tác động của tự nhiên và nhân sinh càng kém chịu tải trong thời gian tới khi áp lực tăng lên môi trường vịnh.
Hạ Long [5] [61 nguy cơ 6 nhiễm và suy thoái môi trường vịnh Hạ Long cũng được đề cập đến khá sớm. Mật số nghiên cứu về trằm tích vịnh Hạ Long “Trong vịnh Hạ Long phân bổ các dio, phin lớn các đảo có thành phần cacbonnat của hệ ting Bắc Sơn (C-P bs) và hệ tang Cát Bà (C, cb) các dé trim tích có cầu tạo phân lớp dày, dạng khối, hoặc trứng cá màu xám có chứa hóa thạnh, [8] và là vịnh nữa kín s cấu tạo từ đá gốc. Nhimg đặc trưng và vé đẹp về dia chit, dia mạo được các tác giả để cập đến [9], những đặc trưng này vé sau được UNESCO công nhận là di sản vẻ địa chất địa mạo. Bên cạnh các dang tài nguyên ph sinh vật nê tên, thi nguyên sinh vật được thống ké có đến 10 hệ sinh thái phân bổ trong vịnh gồm cả trên cạn lẫn dưới 5 nước, các hệ sinh thái này đang đứng trước nhiều nguy cơ suy giảm đa dạng của các loài sinh vật trong đó đề cập đến các nguy cơ đến từ du lịch và dịch vụ, đô thi hóa Xhai thie than, 6 nhiễm môi trường, nhà b và lồng bè trên biển [10] Vinh Hạ Long là một trong các vịnh tiêu biểu ven bờ miễn Bắc và của Việt Nam, nơi đây đang diễn ra các hoại động kinh tế ôi động nhất cả nước như cảng biễn, khai thác khoáng sin, du lịch, công nghiệp, nông nghiệp và ngư nghiệp.
Đó là những tác động chủ yếu đến môi trường vịnh Hạ Long. Những tác động đó được ghỉ nhận là đã tác động đến môi trường ở đây, một số nghiên cứu về đặc trưng môi trường đã chỉ ra có mặt những chất ô nhiễm: dầu mỡ, kim loại nặng. hóa chit bảo vệ thực vật gốc clo PCBs trong trim tích đã có dấu hiệu ô nhiễm [I1]. Những nghiên cứu này đã chỉ ra lượng mỗi trường đã bị 6 nh rong.
trầm tích có hàm lượng khá cao cia cấc chit 6 nhiễm [2] đây là những nguy cơ ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và sinh vật trong vịnh vẫn rit giàu có. Các chit 6 nhiễm hữu eo bin khác gồm hóa chit bảo vệ thực vật gốc clo, PCBs tong: trim tích được nghiên cứu bởi các tác giả Hàn Quốc [12] đã chỉ ra có dấu hiệu hàm. lượng PCBs vượt ngưỡng ISQGs. Hàm lượng PAHs trong trim tích có hàm lượng cao vượt ngường ISQG và có xu thể ra tăng theo thời gian và có nguyên nhân từ sử dụng.
đốt chấy các nhiên liệu hóa thạch [I3]. Kim loại nặng trong trim tích đổi gian triều ở vùng Cửa Lục được chi ra him lượng cao trong trằm tích vượt ngudng ISQG [14]. Tốc động đọng trim tích lơ lừng trên các rạn san hô ở vịnh Hạ Long được nghiên cứu theo mùa, theo đới độ sâu đã chỉ ra vai tr của trim tích lơ lừng với rạn san hộ làm giảm tốc độ phát triển của rạn [15]. Tốc độ king dong trim tích đáy được một số tác giả nghiên cứu và chỉ ra tốc độ ven bờ xa hơn tốc độ xa bờ [16].
Ngoài ra đặc điểm về thành phan khoáng vật trong trim tích gồm có 8 loại chủ yếu, loại trim tích đã chỉ ra trong vịnh có9 loại [17] Ving này đã được ứng dụng Mô hình vào nghiên cứu dự báo chất lượng nước, vận chuyển trim tích, lan truyền các chất rắn lở lim, các chất 6 nhiễm [I8] [I9] các kết aqua này bước đầu có thể hiểu được quá tink vận chuyển, phân tin của vật chit trong thủy vực. Sự tăng cao của độ đục đã dẫn đến gia tăng các chất ô nhiễm bởi hẳu hét các 6 nhiễm tăng co và phân tin ra môi trường nhờ gió, dồng chay và nước, các chất 6 này hòa tan hoặc được hap phụ trong chat rắn lơ lửng được phân tán trong vịnh. Các chỉ tiêu chất lượng nước ở đãi ven bở Hạ Long được quan trắc nhiều năm đã chỉ ra đã bị suy giảm làm ting cao nguy cơ ð nhigm môi trường, giảm đa dạng sinh học ở vịnh Hạ Long (71. Nghiên cửu quản lý mỗi trường vịnh Hạ Long do TS chức Hợp tác quốc tế Nhật Ban JICA [20] tién hành năm 1998 cũng đã đánh dấu suy giảm chất lượng môi trường vinh Hạ Long do tác động của con người thông qua các hoạt động kỉnh tẾ xã hội trên toàn lưu vực, đặc biệt là khai thác than.
Giớid gu khu vực nghiên cứu 1. Khu vực nghiên cứu Khu vực nghiên cứu của đề tài luận văn là vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh như. trong bản đồ hành chính tinh Quảng Ninh.1) Vịnh Hạ Long là một vịnh nhỏ, bộ phận của vịnh Bắc Bộ, vinh được giới han với phía đồng bắc giáp vịnh Bái Tử Long; phia tây nam giáp quin đảo Cát Bà: phía tay và tây bắc giáp dt liền bing đường bờ biển khoảng 120km kéo dai từ thị xã Quảng Yên, qua ‘TP. im Phả đến hết huyện đảo Vân Đồn; phía đông nam và phía nam.
hướng ra vịnh Bắc Bộ như bản dé vịnh Hạ Long. Dia hink Vang biển đồng bắc và các đảo hình thành nên một số bờ biển chạy doe theo chiều di bở biển, xen giữa những bãi cất có sườn thoải, et rắn là những đãi núi đã vôi vách dựng đứng tir khu vực đèo Bụttới xã Quang Hanh (Cảm Phả). Khu vục này có bở biễn phức tạp nhất ở Việt Nam do sự ổn ti của bàng ngàn đảo lớn nhỏ ngoài khơi tạo nên các vịnh lớm (Hạ Long, Bái Tit Long.) với nhiều sông, luồng lạch nhỏ chia cất Đường bờ thường hình thành từ ede đoạn ber phát tiễn rên các thành tạo đá gốc rắn chic, xen kế các đoạn bờ phát triển trên các thành tạo Đệ tứ bở rời. Một số bãi biển đẹp như tại khu du lịch Hoàng Gia, khu du lịch Tuần Châu - Bãi Cháy, bãi Titop trên đảo Titop, bãi Ba Trái Bio.
BE mặt đáy biển tổn tại các bộc địa hình liên quan đến sắc đường bờ biển cổ trong suốt thôi gian Đệ tử (Hình 1. Các bộc địa hình này phân độ sâu 3 - Sm; 10 - 20m; 25 - 30m ứng với thời kỳ bi tiến Flandrian. Day vịnh Hạ Long ở kiểu đồng bằng tích ụ có dạng địa hình kế thi ra và xâm thực của dng triều, bể mặt đáy nghiêng từ bờ ra độ sâu vào khoảng 0,002 - 0,005, trên mặt đáy 7 được tạo thành một lớp tram tích tir tuổi Holocen sớm. Thêm san hô được phân bố ở phía đông bắc đến đông nam vịnh Hạ Long, rạn an hô cảng di racing phat iển, còm vào phía trong kém phát triển.