Đặt vấn đề Nước là tài nguyên vô cùng quý giá đối với sự sống các sinh vật sống trên Trái Đất. Trong cơ thể sinh vật nước chiếm đến khoảng 70% nên nước có vai trò quan trọng đối với duy trì sự sống của các sinh vật. Hiện trên thế giới có tới 1,1 tỉ người đang phải chịu cảnh thiếu nước và 2,6 tỉ người không được sử dụng các dịch vụ nước sạch. Nếu tình hình không có gì thay đổi, trong vòng từ 20 đến 30 năm tới, hơn một nửa dân số Trái đất có nguy cơ sống trong cảnh thiếu nước.
Đây là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại vào thế kỷ (Hồ Thuỷ An dịch,2008) [1]. Tại Việt Nam, hiện chỉ có khoảng 60% đô thị có hệ thống cấp nước tập trung.Tiêu chuẩn cấp nước đối với đô thị trung bình và nhỏ là ở mức 75-80 lít/người/ngày, đối với các đô thị lớn là 100-150 lít/người/ngày. Có khoảng 40% dân số thành thị bị thiếu nước và tỉ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch cũng chỉ ở mức 40-60%. Chính vì nước có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc sống, việc đảm bảo chất lượng sạch cho người dân sử dụng là vấn đề cần phải quan tâm hàng đầu hiện nay.
Để biết được chất lượng nước sinh hoạt mà người dân đang sử dụng có bị ô nhiễm hay không? Có đảm bảo an toàn cho sức khỏe người dân không? Thì cần phải tiến hành đánh giá chất lượng nước mà người dân đang sử dụng. Xuất phát từ những vấn đề trên, cùng với sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, và được sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Thanh Hải, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại địa bàn Phường Phú Xá – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên”.2 Mục đích nghiên cứu đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại Phường Phú Xá – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên - Đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại Phường Phú Xá - Đề ra một số giải pháp cung cấp nước sạch nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch sinh hoạt của người dân địa phương.Yêu cầu đề tài - Thu thập mẫu nước, phân tích một số chỉ tiêu của mẫu theo đúng quy định. - So sánh, đánh giá kết quả phân tích theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam hiện hành. - Thông tin, số liệu thu thập được phải đảm bảo tính chính xác, trung thực, khách quan.
- Giải pháp, kiến nghị đưa ra phải có tính thực tế, khả thi. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng các kiến thức đã học vào trong thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế cho bản thân.
- Tích lũy kinh nghiệm phục vu cho công tác sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn - Cung cấp các thông tin, hiện trạng về môi trường của một xã. - Tạo cơ sở để đánh giá hiện trạng môi trường của một huyện. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tầm quan trọng của nước Nước là nguồn tài nguyên tái tạo, bao phủ ¾ bề mặt trái đất.
Trong đó,97% nước trên Trái Đất là nước mặn, chỉ còn 3% là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí. Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên Trái Đất. Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2000 lít cho hoạt động nông nghiệp.
Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người. Để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1000 tấn nước. Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thủy năng), chât mang vật liệu và tác nhân điều hòa khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất phụ thuộc vào nước.
- Giám sát trước khi đưa nguồn nước vào sử dụng:xét nghiệm tất cả các chỉ tiêu thuộc mức độ A, B do cơ sở cung cấp nước thực hiện, định kỳ giám sát là: - Đối với các chỉ tiêu thuộc mức độ A: a) Xét nghiệm ít nhất 01 lần/03 tháng do cơ sở cung cấp nước thực hiện; b) Kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 01 lần/06 tháng do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện, cụ thể như sau: - Lấy mẫu nước tại 100% các cơ sở cung cấp nước trên địa bàn được giao quản lý; - Lấy mẫu nước ngẫu nhiên đối với nước do cá nhân, hộ gia đình tự khai thác để sử dụng cho mục đích sinh hoạt. h 4 - Đối với các chỉ tiêu thuộc mức độ B: a) Xét nghiệm ít nhất 01 lần/06 tháng do cơ sở cung cấp nước thực hiện; b) Kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 01 lần/năm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, cụ thể như sau: - Lấy mẫu nước tại 100% các cơ sở cung cấp nước trên địa bàn được giao quản lý; Lấy mẫu nước ngẫu nhiên đối với nước do cá nhân, hộ gia đình tự khai thác để sử dụng cho mục đích sinh hoạt ( Bộ Tài Nguyên Môi Trường, 2008) [3]. Nước hợp vệ sinh là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thoả mãn các yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi. Nước và các khái niệm liên quan.
Nước Nước là một hợp chất hóa học của ôxy và hiđrô, có công thức hóa học là H2O. Với các tính chất lí hóa đặc biệt (ví dụ như tính lưỡng cực, liên kết hiđrô và tính bất thường của khối lượng riêng) nước là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời sống. 70% diện tích của Trái Đất được nước che phủ nhưng chỉ 0,3% tổng lượng nước trên Trái Đất nằm trong các nguồn có thể khai thác dùng làm nước uống. Nước có thể chia thành nhiều loại khác nhau, tùy theo đặc tính tự nhiên hay mục đích sử dụng của con người.
Căn cứ vào đặc tính lý hoá của nước, nước có thể chia thành nước mặn, nước ngọt, nước lợ…căn cứ vào dạng tồn tại của nước chia thành dạng lỏng (lỏng), dạng khí (hơi nước), dạng rắn (băng, tuyết). Căn cứ vào nơi tồn tại, nước gồm: nước biển, nước hồ, nước ao… căn cứ vào mục đích sử dụng thì có nước dùng cho sinh hoạt, sản xuất và nuôi trồng thủy sản, thủy điện…Dưới góc độ luật môi trường, nguồn nước được hiểu là “thành phần cơ bản của môi trường, là yếu tố quan trọng hành đầu của sự sống”. - Nước sạch theo quy chuẩn quốc gia là nước đáp ứng các chỉ tiêu theo h 5 quy định của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt - QCVN 02:2009/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/6/2009. - Nước sạch này có thể lấy từ các nguồn sau: + Nguồn nước máy cấp từ các cơ sở cấp nước tập trung.
+ Nguồn nước do cá nhân và hộ gia đình tự khai thác nước để dùng cho sinh hoạt. - Giám sát trước khi đưa nguồn nước vào sử dụng:xét nghiệm tất cả các chỉ tiêu thuộc mức độ A, B do cơ sở cung cấp nước thực hiện, định kỳ giám sát là: - Đối với các chỉ tiêu thuộc mức độ A: a) Xét nghiệm ít nhất 01 lần/03 tháng do cơ sở cung cấp nước thực hiện; b) Kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 01 lần/06 tháng do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện, cụ thể như sau: - Lấy mẫu nước tại 100% các cơ sở cung cấp nước trên địa bàn được giao quản lý; - Lấy mẫu nước ngẫu nhiên đối với nước do cá nhân, hộ gia đình tự khai thác để sử dụng cho mục đích sinh hoạt. - Đối với các chỉ tiêu thuộc mức độ B: a) Xét nghiệm ít nhất 01 lần/06 tháng do cơ sở cung cấp nước thực hiện; b) Kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 01 lần/năm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, cụ thể như sau: Lấy mẫu nước tại 100% các cơ sở cung cấp nước trên địa bàn được giao quản lý; Lấy mẫu nước ngẫu nhiên đối với nước do cá nhân, hộ gia đình tự khai thác để sử dụng cho mục đích sinh hoạt ( Bộ Tài Nguyên Môi Trường, 2008) [3]. - Nước hợp vệ sinh là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thoả mãn các yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi.
Định nghĩa này còn định tính, cần kết hợp với những quan sát h 6 theo hướng sau đây: Giếng đào hợp vệ sinh: - Giếng đào phải nằm cách nhà tiêu, chuồng gia súc hoặc nguồn gây ô nhiễm khác ít nhất 10 m. - Thành giếng cao tối thiểu 0,6 m được xây bằng gạch, đá, hoặc thả ống buy sâu ít nhất 3 m kể từ mặt đất. - Sân giếng phải làm bằng bê tông hoặc lát gạch, đá, không bị nứt nẻ. Giếng khoan hợp vệ sinh: - Giếng khoan phải nằm cách nhà tiêu, chuồng gia súc hoặc nguồn gây ô nhiễm khác ít nhất 10 m.
Nền giếng phải lát gạch, đá hoặc làm bằng bê tông, không bị nứt nẻ (Bộ NN & PTNT số 51/2008-QĐ-BNN, 2008) [2]. Khái niệm liên quan. “Ô nhiễm nguồn nước” là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Suy thoái cạn kiệt nguồn nước: là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của nguồn nước (Quốc Hội, 2012) [7].2 Cơ sở thực tiễn.
Vai trò của nước đối với đời sống và sản xuất. - Vai trò của nước đối với cơ thể sống: Nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Con người có thể thiếu ăn, thiếu ngủ, thiếu mặc nhưng không thể nào thiếu nước sạch. Đây là nguồn tài nguyên cần thiết và không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người.
Thiếu nước sạch, các vấn đề về y tế cũng sẽ nảy sinh.